Rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 2

Rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 2

Tập đọc là một phân môn mang tính tổng hợp bởi bên cạnh việc dạy đọc ta cũng trau dồi kiến thức tiếng việt, kiến thức về văn học đời sống, giáo dục tình cảm, thẩm mĩ cho học sinh, phân môn tập đọc góp phần hình thành và phát triển nhân cách con người mới .

I. PHẦN MỞ ĐẦU
I.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nền giáo dục Việt Nam đó trải qua  nhiều năm đổi mới và thu được nhiều thành quả tốt đẹp. Tiếp tục phát huy những kết quả đó đạt được, từng bước thực hiện các mục tiêu của xã hội. Năm học 2009-2010 toàn ngành giáo dục cùng đẩy mạnh phong trào thi đua: Dạy tốt- học tốt, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện đi lên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Ngày nay, đất nước đang trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nên rất cần những con người có tri thức, có khoa học kỹ thuật. Trước yêu cầu của sự phát triển kinh tế xó hội đòi hỏi nền giáo dục phải thay đổi mục tiêu đào tạo, cải tiến lại nội dung và phương pháp dạy học. Đó là việc làm rất bức xúc và cần thiết hiện nay.
Chính vì vậy, chất lượng dạy và học trong nhà trường đang là vấn đề được các nhà giáo dục hết sức quan tâm. Đây là một trong những việc làm quan trọng, góp phần đào tạo nhân tài cho đất nước. Vì thế, biết bao thầy cụ giáo ngày đêm miệt mài  nghiên cứu để có những sáng kiến mới, những kinh nghiệm hay, nhằm cải tiến phương pháp dạy học cho phù hợp với nhận  thức của học sinh.
Trong giáo dục phổ thông nói chung và ở trường Tiểu học nói riêng, môn học Tiếng Việt là một môn quan trọng, chiếm vị trí chủ yếu trong chương trình. Môn này có đặc trưng cơ bản là: Nó vừa là môn học cung cấp cho học sinh một khối lượng kiến thức cơ bản nhằm đáp ứng được những mục tiêu, nhiệm vụ của từng bài học, vừa là công cụ để học tập tất cả các môn học khác. Trẻ em muốn nắm được kỹ năng học tập, trước hết cần nghiên cứu tiếng mẹ đẻ chìa khóa của nhận thức, của sự phát triển trí tuệ đúng đắn, nó cần thiết cho tất cả các em khi bước vào cuộc sống. Ở nước ta, môn Tiếng Việt có vai trò quan trọng, là một môn học chính , trong đó không thể không kể đến môn Tập đọc.
Dạy môn Tập đọc trong các trường Tiểu học đang là một vấn đề được các trường, các nhà nghiên cứu và toàn xã hội quan tâm. Biết đọc là có thêm một công cụ mới để học tập, để giao tiếp, để nắm bắt được mọi thông tin diễn ra hàng ngày trong xã hội. Thông qua việc đọc các tác phẩm văn chương, con người không những được thức tỉnh về nhận thức mà cũn rung động về tình cảm, nảy nở những ước mơ tốt đẹp, được khơi dậy năng lực hành động, sức mạnh cũng như được bồi dưỡng tâm hồn. Tập đọc là một phân môn thuộc bộ môn Tiếng Việt bậc Tiểu học, này giữ vai trò rất quan trọng, trước hết giúp học sinh rèn luyện các kỹ năng đọc (đọc đúng, diễn cảm) một văn bản. .
Chính vì vậy, dạy Tập đọc có ý nghĩa to lớn ở Tiểu học, nó trở thành một đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối với mỗi người đi học. Học sinh đọc tốt, đọc một cách có ý thức sẽ giúp các em hiểu biết nhiều hơn, bồi dưỡng các em lòng yêu cái thiện, cái đẹp, dạy các em biết suy nghĩ một cách lôgic cũng như có hình ảnh, những kỹ năng này các em sẽ sử dụng suốt đời. Như vậy dạy đọc có ý nghĩa vô cùng quan trọng, bao gồm các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển.
Xuất phát từ quan điểm dạy tập đọc kết hợp dạy ngữ và rèn đọc cho các em. Tập đọc là một phân môn mang tính tổng hợp bởi bên cạnh việc dạy đọc ta cũng trau dồi kiến thức tiếng việt, kiến thức về văn học đời sống, giáo dục tình cảm, thẩm mĩ cho học sinh, phân môn tập đọc góp phần hình thành và phát triển nhân cách con người mới .
Hiện nay ở nhà trường tiểu học việc rèn kỹ năng đọc đạt kết quả chưa cao, có thể có nhiều nguyên nhân, song nguyên nhân lớn nhất là phương pháp rèn đọc chưa được coi trọng, thực tế nếu không có kỹ năng đọc tốt thì học sinh không có điền kiện học các môn khác, không thể tiếp thu nền văn minh. Chính vì vậy, việc dạy đọc cho học sinh có ý nghĩa quan trọng. Thông qua môn học này góp phần đắc lực phục vụ mục tiêu đào tạo con người, con người phát triển toàn diện, có đủ đức, đủ tài tiếp cận nền khoa học kỹ thuật tiên tiến để đưa nước nhà tiến nhanh, tiến xa hơn nữa.
Đối với học sinh lớp 2 các em bắt đầu bước sang giai đoạn đọc nhanh đọc đúng đọc lưu loát, trôi chảy với các em học sinh lớp 3,4,5, cũng yêu cầu cao hơn đó là đọc diễn cảm, đọc phải thể hiện được nội dung, tình cảm của bài để từ đó các em bộc lộ tình cảm của mình qua mỗi bài đọc. Mỗi chúng ta phải làm thế nào? để thông qua môn tập đọc giúp học sinh không những đạt được vấn đề đọc thạo, mà phải hiểu nội dung của văn bản.Vậy người giáo viên phải tìm phương pháp tiếp cận làm sao? cho học sinh có cảm tình với bài tập đọc, thúc đẩy học sinh biểu lộ tình cảm thái độ tự nhiên thông qua giọng đọc. Trong thực tế hiện  nay để thực hiện được vấn đề này  người giáo viên phải thay đổi cách truyền thụ để các em có thể nắm bắt được tri thức, việc rèn đọc cho học sinh là hết sức cần thiết nhưng đọc như thế nào để người nghe hiểu  được nguyên vẹn nội dung cũng như giá trị nghệ thuật của văn bản, nôi cuốn được người nghe, cảm thụ được cái hay, cái đẹp của văn bản. Học sinh không những đọc được nội dung văn bản, mà cũng phải đọc hay, đọc diễn cảm, đây là mục  tiêu mà các thày cô giáo dạy lớp 2 cần phải rèn và là đích để đạt tới .
Trong thực tế hiện nay, dạy tiếng việt ở bậc tiểu học nói chung và dạy phân môn tập đọc ở lớp 2 nói riêng tôi nhận thấy đa số các em đó đọc to rừ ràng song cũng một số em đọc chưa lưu loát, chưa biết ngắt nghỉ đúng dấu chấm, dấu phẩy, nhiều em phát âm chưa rừ phụ âm đầu l; n ; s; x; tr; ch đặc biệt là âm: l.n  và kỹ thuật đọc đa số các em đọc chưa thể hiện được tình cảm nội dung văn bản, các em chưa biết nhấn giọng ở từ ngữ gợi tả,  những từ ngữ trọng tâm từ chìa khoá, trong khi sắm vai, đọc đối thoại các em cũng lúng túng, các em cũng thiếu tự tin trong việc thể hiện giọng đọc của mình ,một số em học sinh đọc yếu  các em cũng chưa xác định được giới hạn của những câu đối thoại, khi đọc gặp phải đấu ? ; ! thường chưa biết cách thể hiện giọng đọc như thế nào cho phù hợp. Để khắc phục những tồn tại trên nhà trường đó tổ chức cỏc cuộc thi đọc diễn cảm, và thi kể chuyện. 
Vì những lý do trên và do những yêu cầu của giáo dục Tiểu học tôi xin trình bày một vài quan điểm của bản thân về đổi mới phương pháp dạy học.” rèn kỹ năng đọc cho học sinh lớp 2”. thông qua môn tập đọc của trường tiểu học An Sinh A. 
I.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Khi tôi nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích:
+ Tìm ra phương pháp và hướng đi, giúp học sinh đọc tốt hơn, qua đó từng bước nâng cao năng lực đọc đúng, đọc hay, đọc diễn cảm của mỗi học sinh.
+ Tìm hiểu yờu cầu nhiệm vụ và thực trạng dạy học của phân môn Tập đọc ở lớp 2.
I.3. THỜI GIAN ĐỊA ĐIỂM
Tôi nghiên cứu đề tài này từ tháng 9/2009 đến tháng 5 năm 2010 Tại trường tiểu học An Sinh A
I.4. ĐÓNG GÓP MỚI VỀ MẶT LÝ LUẬN VỀ MẶT THỰC TIỄN
I.4.1. NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN
         Đối với phân môn tập đọc muốn học tốt học sinh phải có kĩ năng đọc, và hiểu được nội dung bài, giá trị nghệ thuật của từng bài từ đó học sinh biết cách thể hiện cảm xúc của giọng đọc một cách đúng . Khi đó được trang bị kỹ năng đọc, học sinh sẽ ham thích tìm hiểu, biết bộc lộ tình cảm một cách đúng mức trong cuộc sống, ngoài ra để học tốt các em cần phải có vốn ngôn ngữ phong phú, đa dạng. Có như vậy các em mới có đủ điều kiện để học tốt các môn khác. Dạy tốt phân môn tập đọc, cũng giúp học sinh có vốn ngôn ngữ chuẩn mực để tiếp thu tri thức khoa học và khi giao tiếp các em sẽ tự tin hơn.  Học tốt môn tập đọc, sẽ tạo tiền đề cho các em bước vào lĩnh vực khoa học một cách vững chắc. 
Khi nghiên cứu đề tài này tôi nghiên cứu và tham khảo sách giáo khoa lớp 2, sách giáo viên lớp 2, sách tiếng việt nâng cao lớp 2 và một số sách tham khảo có liên quan đến phân môn tiếng việt khối 2.
 I.4.2. NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN:
Nhiều năm giảng dạy và làm công tác quản lý chuyên môn dạy tiếng việt ở bậc tiểu học núi chung và dạy tập đọc ở lớp 2 nói riêng tôi nhận thấy: Khả năng tiếp thu môn học tiếng việt của các em cũng nhiều hạn chế so với các môn toán hay tự nhiên xã hội, ở phân môn tập đọc lớp 2 đa phần các em đó đọc được, song một số em đọc cũng chưa được rõ ràng, chưa biết ngắt nghỉ đúng dấu chấm, dấu phẩy, nhiều em phát âm chưa phân biệt rõ phụ âm đầu  l/n; tr/ch; s/x đặc biệt học sinh trường tôi đang công tác thì đa số các em đọc con ngọng phụ âm l/n, về kĩ thuật đọc chưa thể hiện được tình cảm, nội dung mà văn bản đề cập tới. Ví dụ như các em chưa biết nhấn giọng ở từ ngữ gợi tả, những từ ngữ trọng tâm, từ chìa khoá, trong những trường hợp sắm vai hay đối thoại các em cũng lúng túng, nhiều em cũng thiếu tự tin trong việc thể hiện giọng đọc của mình. Đối với đối tượng học sinh trung bình và yếu cỏc em chưa xác định được đâu là giới hạn những câu đối thoại của mình, với thực tế trên tôi đi sâu vào nghiên cứu vấn đề rèn kỹ năng đọc cho học sinh khối 2 với mong muốn tích lũy thêm cho bản thân những kiến thức và kinh nghiện chỉ đạo chuyên môn nhằm đạt hiệu quả cao trong việc chỉ đạo chuyên môn dạy và học.
II. NỘI DUNG
II.1 CHƯƠNG I: TỔNG QUAN
II.1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN.
Phân môn Tập đọc có vị trí rất quan trọng trong chương trình học Tiểu học nói chung. Tập đọc là bài học khởi đầu giúp học sinh chiếm lĩnh tri thức, chiếm lĩnh công cụ (năng lực đọc, nghe, nói, viết) từ đó mở rộng cánh cửa cho học sinh nắm lấy kho tàng tri thức của loài người.
Quá trình dạy học gồm 2 mặt có quan hệ mật thiết với nhau: Hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh. Người giáo viên là chủ thể của hoạt động dạy với hai chức năng truyền đạt và chỉ đạo tổ chức. Người học sinh là đối tượng (khách thể) của hoạt động dạy nhưng lại là chủ thể của hoạt động học tập với hai chức năng tiếp thu và tự chỉ đạo, tự tổ chức.
Hoạt động học tập của học sinh chỉ có thể đạt hiệu quả nếu học sinh tiến hành các hoạt động học tập một cách tích cực, chủ động, tự giác với một động cơ nhận thức sâu sắc. Bằng hoạt động học tập, mỗi học sinh tự hình thành và phát triển nhân cách của mình mà không ai có thể làm thay được.
Dạy học là con đường thuận lợi nhất, giúp học sinh trong khoảng thời gian ngắn nhất, có thể nắm được một khối lượng kiến thức cần thiết. Nó được tiến hành một cách có tổ chức có kế hoạch. Giúp học sinh phát triển một cách có hệ thống, năng lực hoạt động trí tuệ và tư duy sáng tạo. Từ đó giúp học sinh có hành động đúng đắn trong học tập.
II.1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN.
Khi tiến hành làm đề tài này tôi đã nghiên cứu sách giáo khoa phân môn tập đọc khối 2 để tìm hiểu nội dung cấu trúc của chương trình, tìm hiểu việc học của các em, tìm hiểu các tài liệu hướng dẫn của ngành, nghiên cứu rút kinh nghiệm qua từng tiết dự giờ. Nghiên cứu tài liệu có liên quan đến phân môn tiếng việt nhất là phân môn tập đọc.
Quan sát đội ngũ giáo viên thường xuyên sử dụng phương pháp gỡ? những điểm hợp lý và chưa hợp lý trong quá trình rèn đọc cho học sinh .
     Thường xuyên dự giờ của giáo viên dạy khối 2-3 để rút kinh nghiệm trong quá trình chỉ đạo, nhất là môn tập đọc.
1. Học sinh:
- Do đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh Tiểu học còn nhỏ tự giác trong học tập chưa cao, trình độ đọc còn yếu (chưa rành mạch, còn ấp úng, phát âm không chuẩn xác một số phụ âm đầu: l/n; tr/ch; s/x)
- Đọc và dùng từ địa phương: chổi/ chủi; bảo/ bẩu; ổi/ ủi; ; sổi/ sủi.
2. Giáo viên:
- Dạy sa vào giảng văn nhiều hơn là rèn đọc.
- Phần luyện đọc nhiều giáo viên cho là dễ, nhưng thực chất đây là phần khó nhất, phần trọng tâm của bài giảng. ở khâu này, giáo viên ít mắc lỗi về thao tác kỹ thuật nhưng lại không biết dạy như thế nào để phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh, chưa chú ý đến tốc độ đọc của các em theo yêu cầu về kiến thức và kỹ năng cơ bản phự hợp với từng khối lớp.
- Một hạn chế rất phổ biến ở giáo viên khi dạy Tập đọc là không phân biệt được sự khác nhau giữa tiết Tập đọc và tiết Tập đọc - học thuộc lòng. Nhiều giáo viên chỉ thấy sự khác nhau ở các lớp đầu cấp khi cho học sinh đọc đồng thanh, mà quên rằng nhiệm vụ chủ yếu của tiết Tập đọc là luyện đọc cá nhân, còn nhiệm vụ của tiết Tập đọc- học thuộc lòng là vừa phải luyện đọc vừa kết hợp rèn trí nhớ, ít chú ý đến đối tượng học sinh yếu nhiều giáo viên cố tình "bỏ quên" đối tượng này, coi như không có các em trong lớp.
- Có một số giáo viên tuổi cao, mặc dù có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy, nhưng do phương pháp dạy học truyền thống đó tiềm tàng, khả năng nắm bắt phương pháp mới cũng hạn chế. Các bước lên lớp chưa linh hoạt. Vì vậy tiết Tập đọc còn buồn tẻ, đơn điệu. Các em học vẹt. Khâu thực hành còn yếu, nhất là khâu luyện đọc, đặc biệt là rèn đọc diễn cảm cho học sinh.
II.2 CHƯƠNG II
NỘI DUNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
II.2.1 MỘT SỐ KINH NGHIỆM
Ngay từ khi lọt lòng mẹ, trẻ đó có nhu cầu được nghe lời ru của mẹ, của bà, đến lúc chập chững biết đi bé lại bi bô cất tiếng gọi những người thân thiết, tuy chưa rõ tiếng nhưng nghe thật cảm động rễ thương. Ở giai đoạn này bà và mẹ là những người thầy đầu tiên dạy dỗ bé, tiếp xúc làm quen với môi trường sống xung quanh, khi đến tuổi cắp sách đến trường, thì vấn đề giao tiếp đọc, nghe, nói, viết của bé đó trở thành nhu cầu thói quen không thể thiếu, lúc này người thầy giáo đóng vai trò quan trọng, trong việc cung cấp kiến thức và rèn luyện kĩ năng đọc, nói, nghe, viết. Góp phần vào việc phát triển nhân cách của trẻ.
Học sinh tiểu học là giai đoạn phát triển hết sức hồn nhiên đây là giai đoạn nhân cách đang hỡnh thành đối với lứa tuổi từ 6-8 tuổi khả năng chú ý kém mải chơi, thích quan sát và khám phá thế giới xung quanh, vậy khi đến trường học các em phải tuân theo nội qui, qui định của trường, của lớp.
Trong ý thức của mình các em bắt đầu nhận thức được sự vật một cách chủ động, có mục đích nhằm đặt những yêu cầu của tư duy trực quan, từ quan sát trực quan chuyển sang tư duy ngôn ngữ lôgíc, trìu tượng cách phát âm thiếu lập luận, chuyển sang ngôn ngữ có lập luận chặt chẽ. ở giai đoạn này nhận thức của các em mang nặng mầu sắc cảm tính, được củng cố và phát triển trên cơ sở nhận thức ngày càng đúng đắn hơn, chuẩn mực hơn các em đó tin vào lời giảng của các thầy cô, vào sách. Những điều kiện mà nhà trường, gia đình dạy giỗ giáo dục, học sinh tiểu học thường hiếu động dễ hưng phấn khó tập chung, hay hướng tới hoạt động cụ thể kết quả trực tiếp không thích hoạt động kéo dài, khó thấy kết quả. Nhất là kiến thức trìu tượng, ít hấp dẫn, lứa tuổi này các em hay bắt chước, các em ít hiểu tác dụng của việc mình làm, mà chỉ hiểu đơn giản là làm thầy cô và bố mẹ hài lòng.
Xuất phát từ thực tế tâm lý của trẻ, vậy chỉ có giờ dạy sinh động, trực quan, lời giảng dễ hiểu, hấp dẫn gếup trẻ tập trung cuốn hút vào bài  giảng của giáo viên.
II.2.2 NGHIÊN CỨU CHƯƠNG TRÌNH SÁCH GIÁO KHOA.
II.2.2.1 Nội dung chương trình:
Qua nghiên cứu thống kê chương trình phân môn tập đọc khối 2 cả năm học có 35 tuần mỗi tuần có 3 tiết mỗi tiết dạy 40 phút.
   Kỳ I cú 18 tuần.
   Kỳ II cú 17 tuần gồm 7 chủ điểm như sau :
-Bảo vệ tổ quốc.
- Sáng tạo.
- Nghệ thuật.
- Lễ hội.
- Thể thao.
- Ngôi nhà chung.
- Bầu trời và mặt đất.
Qua nghiên cứu chương trình môn Tiếng việt, tôi thấy phân môn tập đọc chiếm ưu thế lớn trong môn tiếng việt. Vì vậy môn này gúp phần hình thành kĩ năng nghe, đọc, nói, viết ở trường tiểu học.
 II.2.2.2 NGHIÊN CỨU SÁCH GIÁO KHOA.
Sách giáo khoa lớp 2 được in 2 tập.
Tập 1 gồm 7 chủ điểm.
Tập 2 gồm toàn bộ nội dung học kì II.
Sách giáo khoa được cấu tạo gồm 3 phần
- Phần 1:     Bài học
- Phần 2 :   Chú thích và giải nghĩa.
- Phần 3:    Câu hỏi và bài tập.
Cả 3 phần trong sách giáo khoa hệ thống câu hỏi phù hợp với tất cả đối tượng học sinh, các câu hỏi theo hướng mở, học sinh có nhiều hướng giải, các câu hỏi  từ dễ đến khó, từ cụ thể đến trìu tượng. Các bài tập được phân theo chủ điểm gần gũi với học sinh, các em được mở rộng hiểu biết về đất nước, nhân dân, xã hội Bác Hồ. Đây là một ưu điểm mà sách giáo khoa tiếng việt  2 soạn thảo.
         Ngoài ra sách giáo khoa lớp 2 cũng được đọc những câu truyện vui đem đến cho các em không khí học tập thoải mái góp phần hình thành chí thông minh và lòng nhân hậu, mang tính giáo dục cao.
II.2.2.3 NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG:
Để hoàn thành ý tưởng, đề ra các giải pháp rèn đọc cho học sinh khối 2 của trường tiểu học An Sinh A, ngay từ đầu năn học tôi đó tiến hành khảo sát chất lượng phân môn này lấy hai lớp làm trung tâm nghiên cứu đó là lớp 2A ,2B.
Tổng số học sinh: 50 em qua khảo sát chất lượng môn đọc tôi đó thu được kết quả như sau:
TSHS
Đọc ngọng
Đọc sai P/âm
Đọc sai dấu
đọc đúng
Đọc diễn cảm
 
TS
%
TS
%
TS
%
TS
%
TS
%
50
5
10%
24
48%
4
8%
9
18%
8
16%
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
II.2.2.4:  DỰ GIỜ ĐỒNG NGHIỆP.
 
TẬP ĐỌC
NGƯỜI MẸ HIỀN
I/ Kiểm tra bài cũ
2 Em đọc bài :  Cô giáo lớp em.
1 em trả lời câu hỏi:
+ Tìm từ nói lên tình cảm của học sinh đối với cô giáo?
II/Dạy bài mới.
Giới thiệu bài. Yêu cầu học sinh mở sách giáo khoa.
Giáo viên đọc mẫu bài tập đọc.
Học sinh đọc nối tiếp câu trong sách giáo khoa.
Giáo viên ghi từ dễ lẫn lên bảng:
(nén nổi, lách ra, cổng trường, toáng lên).
Giáo viên cho học sinh luyện từ dễ lẫn - đọc cá nhân - đồng thanh
Học sinh đọc nối tiếp câu lần 2
Giáo viên chia đoạn.
Cho học sinh đọc nối tiếp đoạn  lần 1.
Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc đoạn ( treo bảng phụ )
Giáo viên yêu cầu học sinh tìm chỗ ngắt nghỉ giáo viên vạch chỗ ngắt nghỉ trong đoạn văn.
Giáo viên đọc mẫu đoạn văn.
Cho học sinh đọc cá nhân nhiều lần.
Cho các nhóm đọc thầm bài tập đọc.
Thi giữa các nhóm.
1 em đọc cả bài tập đọc.
Giáo viên hỏi nội dung .
*  Học sinh đọc cá nhân đoạn 1, lớp đọc thầm và trả lời câu hỏi
? Giờ ra chơi Minh rủ Nam đi đâu?   ( Đi xem xiếc)
? Các bạn ấy định ra phố bằng cách nào ?  (Chui qua chỗ tường thủng )
Cho học sinh đọc thầm đoạn 2, 3 và trả lời câu hỏi.
? Khi Nam bị bác bảo vệ giữ lại, cô giáo đó làm gì? (Bác nhẹ tay kẻo cháu đau)
? Cô giáo làm gì khi Nam khóc? ( Cô nhẹ nhàng kéo Nam lại rồi đỡ em ngồi dậy, cô phủi đất cát lấm lem trên người em rồi đưa em về lớp.)
? Người mẹ hiền trong bài là ai? ( Là cô giáo)
? Qua câu truyện cho ta biết điều gì?
Học sinh đọc phân vai.
Giáo viên tổng kết bài.
Dặn dò về nhà.
 
NHẬN XÉT DỰ GIỜ
Ưu điểm: Đa số các em học sinh đó đọc được bài tập đọc hiểu nội dung bài và trả lời được câu hỏi phần nội dung bài.
Tồn tại : Nhiều em đọc sai phụ âm, ngắt nghỉ chưa đúng chỗ.
Giáo viên  chưa chú ý sửa cho các em, khả năng đọc diễn cảm còn yếu.
Học sinh yếu chưa được đọc nhiều và trong quá trình đọc giáo viên chưa động viên kịp thời cho các em.
II.2.2.5:  ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP
Tập đọc là phân môn chủ yếu rèn đọc cho học sinh, từ mức độ nhận biết để đọc đúng, đọc rõ ràng, đọc to, mức độ đọc cao hơn là đọc lưu loát, biết ngắt nghỉ lên xuống giọng và thể hiện thái độ tình cảm qua bài tập đọc, từ đúng học sinh hiểu nội dung của bài.
Để đạt được mục đích trên trước hết người giáo viên phải đổi mới phương pháp dạy học. Sử dụng bằng nhiều hình thức rèn đọc, trên cơ sở giúp học sinh nhận thức được việc rèn đọc trong trường tiểu học là một vấn đề rất quan trọng.
* PHƯƠNG PHÁP TRỰC QUAN:
  Phương pháp này phù hớp với tư duy, Tâm lý lứa tuổi  ở bậc tiểu học. Phương pháp trực quan là giáo viên đưa ra những bức tranh minh họa hoặc bằng vật thật cho từng bài để phục vụ trong quá trình dạy và rèn đọc cho học sinh, kết hợp đọc hiểu và  đọc diễn cảm.
+ Các hình thức trực quan.
- Giọng đọc mẫu của giáo viên. Đây  là một hình thức trực quan sinh động và có hiệu quả đáng kể, có tác dụng làm mẫu cho học sinh luyện đọc.
- Giáo viên đọc mẫu phải tốt, diễn cảm để học sinh cảm nhận được cái hay, cái đẹp của bài Tập đọc. Trong quá trình đọc mẫu giáo viên biết sử dụng các thủ pháp ngắt, nghỉ  hơi đúng chỗ, dùng ngữ điệu, nhấn giọng, hạ giọng, lên giọng… để làm nổi bật ý nghĩa và tình cảm của tác giả đó gửi gắm vào bài đọc đó. Từ đó giúp học sinh thấy sôi nổi, hào hứng tham gia vào việc tìm hiểu, khám phá bài Tập đọc hơn và học sinh có ý thức đọc diễn cảm tốt hơn.
- Dùng tranh ảnh vật thật : Đây là phương pháp có tác dụng rất lớn đến việc rèn  kĩ năng đọc cho học sinh lưu ý khi sử dụng tranh ảnh bức vẽ đó phải to đẹp đảm bảo về mặt mĩ quan và cú tỏc dụng giáo dục.
 Ví dụ: Bài Sông Hương tập đọc lớp 2 tôi phóng to tranh vẽ “Sông Hương” trong sách giáo khoa có đủ màu sắc như nội dung bài để các em nhìn tận mắt các màu xanh chỉ sự khác nhau của phong cảnh “Sông Hương” như xanh thẳm của da trời, màu xanh biếc của lá cây, màu xanh non của những bãi ngô, thảm cỏ in trên mặt nước. Khi đọc tôi yêu cầu học sinh đọc nhấn mạnh ở các từ chỉ màu sắc, học sinh nhớ từ cần nhấn mạnh. Sử dụng phương pháp này giúp học sinh có kỹ năng đọc và tiếp thu bài tốt, giúp học sinh dễ hiểu bài hơn và gây hứng thú cho học sinh khi đọc.
- Luyện đọc từ khó:
Khi hướng dẫn học sinh phát âm giáo viên phân tích cho các em thấy được sự khác biệt giữa cách phát âm đúng và cách phát âm sai giữa các phụ âm dễ lẫn.
Đối với học sinh tiểu học tôi phải hướng dẫn học sinh thật tỉ mỉ, cụ thể có như vậy thỡ cỏc em mới ỏp dụng đọc thực hành tốt được. Hệ thống cách phát âm như răng, lưỡi (bộ máy phát âm ) Khi phát âm nó như thế nào? giáo viên phải làm mẫu trực tiếp cho học sinh quan sát. Ngoài hình thức trên tôi còn ghi các từ khó luyện đọc bằng phấn màu lên bảng (bảng phụ ). Tôi chỉ dùng phấn màu ghi các phụ âm, vần khó làm nổi bật các phụ âm, vần  khó trong các từ luyện đọc để các em được nhìn bằng mắt, tập phát âm bằng miệng, được nghe và có thể viết  bằng tay vào bảng con, có như vậy các em sẽ nhớ lâu và đọc đúng. Học sinh yếu đọc sai phụ âm, sai vần cần luyện nhiều và yêu cầu học sinh phân tích từ có tiếng có vần mà các em hay đọc sai.
- Luyện đọc câu - Đoạn - Bài .
Kết hợp với việc đọc phát âm đúng tiếng từ phụ âm đầu tôi còn rèn cho học sinh biết ngắt nghỉ đúng dấu chấm, dấu phẩy đọc, lưu loát. Đây là yêu cầu trọng tâm của học sinh lớp 2. Khi học sinh đọc giáo viên phải theo dõi tững chữ không để cho các em đọc kéo dài ê-a, đối với học sinh yếu phần luyện đọc chưa đạt yêu cầu các em dùng bút chỡ đánh dấu vào sách giáo khoa để dọc cho đúng. Trong các giờ tập đọc tôi chép đoạn văn hoặc đoạn thơ dài khó đọc vào bảng phụ để hướng dẫn học sinh cụ thể từng câu, từng  đoạn cách đọc như thế nào? nhấn giọng ở từ nào?
- Đọc thầm của học sinh.
           Đây là việc làm quan trọng để hình thành và phát triển kỹ năng, kỹ xảo đọc thầm và nó luôn theo ta trong suốt cuộc đời. Đọc thầm giúp các em chuẩn bị tốt cho khâu đọc thành tiếng, tìm hiểu bài và nằm bắt nội dung bài học tốt hơn. Vi vậy, chúng ta không nên bỏ qua bước này.
          - Đối với học sinh lớp 2, đọc thầm khó hơn đọc thành tiếng do các em chưa có sức tập chung cao để theo dõi bài đọc. Thường các em dễ bị sót chữ, bỏ dòng.
          - Để hướng dẫn học sinh đọc thầm đạt kết quả, khi dạy tôi yêu cầu học sinh tập chung vào bài, đọc thầm kết hợp với việc tham gia đặt câu hỏi nhận biết nhiệm vụ học tập hoặc kiểm tra đọc thầm bằng cách  hỏi học sinh đó đọc đến đâu và định hướng nội dung cần tìm. Có như vậy các em mới chú ý và tập chung trong khi đọc thầm và kích thích tinh thần học tập của học sinh.
          - Học sinh đọc thầm có thể dưới nhiều hỡnh thức: Cả lớp đọc thầm, đọc thầm theo bạn (học sinh đọc cá nhân) hoặc theo cô (đọc mẫu) và giáo viên đưa ra những định hướng sau:
+ Tự phát hiện tiếng, từ phải tìm dễ lẫn?
+ Tìm những từ cần nhấn giọng, hạ giọng, lên giọng, chỗ ngắt, nghỉ hơi?
+ Bài văn, bài thơ nói về ai?
+ Trong bài có những nhân vật nào? Ai đang trò chuyện?
+ Phát hiện giọng đọc của đoạn, bài, từng nhân vật?
 
* Phương pháp đàm thoại :
  Phương pháp này phù hợp với tâm lí trẻ nhỏ các em thích được hoạt động, thực hiện trên cơ sở trao đổi câu hỏi, phục vụ cho nội dung bài . đây chính là thầy giáo dẫn dắt học sinh tìm hiểu, khám phá khai thác những nội dung để chiếm lĩnh kiến thức. Ngược lại trò có thể hỏi những thắc mắc để giáo viên hướng dẫn và giải đáp.
 Các hình thức đàm thoại : Rèn kỹ năng đọc hiểu cho học sinh tôi thường chuẩn bị trước câu hỏi sao cho phù hợp với học sinh, muốn cho học sinh hiểu nội dung trước hết học sinh phải có kỹ năng đọc đó là, đọc đúng, đọc lưu loát, trôi chảy, có đọc thông văn bản thì các em mới hiểu nội dung bài và hiểu giá tri nghệ thuật của bài,
dẫn đến sự cảm thụ tốt và đọc diễn cảm tốt. Để đạt những yêu cầu đó tôi thường đưa ra những câu hỏi cần sử dụng đúng lúc, đúng chỗ phù hợp với từng bài đọc.
Rèn đọc hiểu cho học sinh : kết hợp với việc rèn đọc đúng cầu rèn đọc hiểu cho học sinh đọc hiểu ở đây có thể là từ khóa, từ trọng tâm câu, đoạn, bài.
* Tác dụng của phương pháp đàm thoại : Tạo cho học sinh phát triển giao tiếp khi sử dụng phương pháp này ngoài việc có tác dụng giúp học sinh tiếp thu kiến thức,  còn có tác dụng kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh. Giáo viên kịp thời điều chỉnh nội dung và phương pháp dạy học của mình cho phù hợp với đối tượng học sinh.
 
* Phương pháp luyện tập :
Đây là phương pháp chủ yếu, thường xuyên sử dụng khi dạy học phân mộn tập đọc, đối với phương pháp này tôi hướng dẫn học sinh  vận dụng thực hành tốt. Tôi luôn hướng dẫn học sinh luyện tập có ý thức và kiểm tra ngay kết quả luyện tập tại lớp.
Luyện đọc đúng là đọc thành tiếng đọc trôi chảy,  lưu loát và rèn cho học sinh biết ngắt nghỉ đúng chỗ, biết phân biệt câu thơ, dòng thơ.
 Hình thức luyện tập ở nhà : Hình thức này giúp học sinh rèn luyện kỹ năng đọc. Với học sinh yếu cho học sinh luyện đọc từ, cụm từ. Học sinh trung bình, khá luyện đọc trôi chảy lưu loát cả bài. Học sinh giỏi đọc điễn cảm cả bài. Có kế hoạch giao bài cụ thể cho từng em và kiểm tra theo yêu cầu để giao.
Dạy thử nghiệm :
Qua quá trình nghiên cứu điều tra tìm ra những tồn tại cũng như nguyên nhân cần khắc phục tôi đã tiến hành dạy thử nghiệm hai  tiết tập đọc ở lớp 2A, 2B  như sau.
TẬP ĐỌC
 
CHIM RỪNG TÂY NGUYÊN
I. Mục tiêu .
- Đọc lưu loát được cả bài, đọc đúng các từ khó.dễ lẫn.
-  Nghỉ hơi đúng sau dấu chấm, dấu phẩy, giữa các cum từ.
Giọng đọc khi êm ả, khi vui, khi sảng khoái biết nhấn giọng ở từ ngữ gợi tả.  
II. Đồ dùng:
        Tranh minh họa sách giáo khoa, vài búp hoa ngọc lan.
      - một số tranh về loài chim khác.
III / Các hoạt động dạy học.
A. Kiểm tra bài cũ:
Kiểm tra 2 em đọc bài cũ:
Trả lời câu hỏi giáo viên nhận xét cho điểm.
B Dạy bài mới
- Giới thiệu bài : Giáo viên treo tranh minh họa giới thiệu bài.
- Giáo viên đọc mẫu cả bài.
Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc.
Cho học sinh đọc câu nối tiếp theo hàng dọc.
Giáo viên ghi từ dễ lẫn lên bảng cho học sinh luyện .
( mặt nước, Y- rơ- pao, ríu rít, lượn, nhào lộn,trắng muốt )
Cho học sinh luyện đọc từ dễ lẫn. Kết hợp giải nghĩa từ khó từ trong chú giải.
(Cá nhân đọc – cả lớp đọc đồng thanh )
* Luyện đọc đoạn
Giáo viên  chia đoạn (2đoạn )
Từ đầu đến lần xuống đoạn một
Đoạn 2: Còn lại .
Cho học sinh đọc nối tiếp đoạn trong bài ( Đọc theo hàng ngang )
Giáo viên  treo bảng phụ đó viết sẵn đoạn văn dài trong đoạn 2 lên bảng và hướng dẫn học sinh đọc .
- Giáo viên  đọc mẫu . Yêu cầu học sinh đọc và phát hiện ra chỗ ngắt, nghỉ của đoạn văn, từ cần nhấn giọng , giáo viên dùng phấn khác màu vạch chỗ ngắt trong đoạn văn và từ cần nhấn giọng  .
Cho học sinh đọc nhiều lần cá nhân, đồng thanh theo tổ.
*Tìm hiểu bài :
Cho học sinh đọc thầm đoạn 1 và trả lời câu ?
?Hồ Y- rơ- pao đẹp như thế nào?.( mặt hồ rộng, bầu trời trong xanh, măt hồ xanh, rộng mênh mông)
? Quanh hồ Y- rơ –Pao có những loài chim gì? (Đại bàng, Thiên Nga, chim Kơ  púc)
? Tìm những từ ngữ tả hành động, màu sắc, tiếng kêu, hoạt động của chúng? ( Đại bàng : chân vàng, mỏ đỏ, tiếng vi vu, vi vút.)
 (Thiên Nga: Trắng muốt đang bơi lội.)
 ( Chim kơ Púc: Mình đỏ chót và nhỏ như quả ớt.)
Cho học sinh đọc đoạn 2 và trả lời câu hỏi :
? Với đủ các loài chim hồ Y- rơ -  Pao vui nhộn như thế nào? ( Tiếng hót ríu rít, rộn vang cả mặt nước )
? Con  thích nhất cảnh đẹp nào ở hồ Y – rơ – Pao?  ( HS trả lời theo suy nghĩ cá nhân)
Cho một em đọc to cả bài văn
? Bài văn tả về nội dung gì ?
(giáo viên chốt như yêu cầu )
Cho học sinh đọc nội dung bài ( Giáo viên treo nội dung lên bảng )
4/ Luyện đọc lại :
Giáo viên đọc bài văn lần 2
Gọi học sinh đọc cá nhân ( Đánh giá cho điểm )
( có thể cho học sinh  đọc 1 hoặc 2 câu, đoạn, bài tùy theo năng lực của các em.)          Trong quá trình theo dõi học sinh đọc giáo viên cần chú ý nghe chính xác các phụ âm khi mà học sinh hay đọc sai để sửa cho các em ngay khi đọc sai.
Cho học sinh đọc theo nhóm và thi giữa các nhóm .( Giáo viên cho học sinh nhận xét phần thi đọc giữa các nhóm giáo viên nhạn xét đánh giá tuyên dương cho điểm giữa các nhóm )
Cho 2 em học sinh đọc cả bài .
? Con có nhận xét gì về chim rừng Tây Nguyên?
5/ Củng cố dặn dũ .
Về nhà luyện đọc nhiều lần bài văn và chuẩn bị bài : Hội vật để giờ sau chúng ta học.
Nhận xét 2 tiết học
ưu điểm : Học sinh đã đọc được bài tập đọc một cách trôi chảy, phát âm chuẩn hơn, đã biết nhấn giọng ở những từ ngữ gợi tả, từ chìa khóa , đã thể hiện giọng đọc của mình, tự tin khi đọc bài và trả lời bài lưu loát,  một số em đó đọc diễn cảm rất tốt, thể hiện được tình cảm của mình qua giọng đọc cuốn hút được người nghe. Đặc biệt là lớp 2A đọc tốt hơn lớp 2B.
Tồn tại : Một số ít các em học sinh vẫn còn thể hiện giọng đọc đều đều chưa biết nhấn giọng ở những từ ngữ gợi tả, ngắt nghỉ chưa đúng chỗ.học sinh lớp 2B còn một số em phát âm còn sai, ngọng các phụ âm n/l,ch/ tr, x/s.
II.3:  CHƯƠNG 3
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
II.3.1 Phương pháp nghiên cứu:
Thực hiện nghiên cứu đề tài này tôi tiến hành nghiên cứu các phương pháp sau.
II.3.1.1 Phương pháp điều tra.
Thông qua việc trao đổi bàn bạc giáo viên với học sinh, phụ huynh nhằm mục đích nắm bắt thu thập những tài liệu, thông tin và tình hình thực tế có liên quan đến nội dung đề tài cần nghiên cứu.
Trao đổi với giáo viên sau một giờ tập đọc phải đạt được những yêu cầu gỡ ? Trao đổi với phụ huynh về vấn đề học ở nhà của các em học sinh những tồn tại của con em họ, ý kiến  của phụ huynh về môn học này.
II.3.1.2. Phương pháp quan sát
   Thông qua các tiết dự giờ, các giờ giảng trên lớp của giáo viên mà tôi quan sát được, kháo sát thí điểm một số lớp trong tiết học, biết được khả năng tiếp thu bài của các em học sinh, biết được cách đọc của các em, bên cạch đó tiếp thu học hỏi được kinh nghiệm hay của giáo viên, và phát hiện ra những hạn chế trong quá trình giảng dạy của giáo viên .
II.3.2.2 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết .
Đọc sách nghiên cứu tài liệu tìm ra những kiến thức có liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu, từ đó giúp cho kết quả của đề tài được năng cao, được mở rộng và có tính  khả thi trong các năn học tiếp theo.
II.3.2.3 Phương pháp thực nghiệm khoa học .
Thông qua các tiết dạy thể nghiệm để chứng minh cho các biện pháp đề xuất là đúng đắn và các biện phát đó có tính giáo dục cao khi áp dụng chất lượng được nâng lên rõ rệt.
II.3.2.4 Kết quả nghiên cứu:
Đánh giá nhận xét quá trình nghiên cứu áp dụng vào các giờ dạy thử nghiệm kết quả đó làm, các em học sinh đó tiến bộ rõ rệt thông qua khảo sát ở lớp 2A,2B
Tổng số học sinh : 25em
 
TSHS
Đọc ngọng
Đọc P/âm sai
Đọc sai dấu
đọc đúng
Đọc diễn cảm
 
TS
%
TS
%
TS
%
TS
%
TS
%
2A
25 HS
 
 
1
4%
1
4%
8
32%
15
60%
2B
25 HS
2
8%
2
8%
1
4%
10
40%
10
40%
   
 
 
 
III. KẾT LUẬN CHUNG
 
Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp đặc biệt, trong đó ngôn ngữ được thể hiện ở dạng nói và viết. Để mỗi tiết học mang lại hiệu quả cao người giáo viên phải đầu tư thời gian một cách hợp lý nhằm lựa chọn các nội dung và phương pháp dạy  học cho phù hợp, đồng thời người giáo viên phải thực sự năng động, sáng tạo, luôn trăn trở tìm tòi suy nghĩ, hình thức tổ chức dạy học sao cho mọi học sinh đều có niềm say mê hứng thú trong học tập. trong quá trình dạy học phải nắm vững tâm lý học sinh, học sinh khối 2 các em thích được động viên, khuyến khích, khen, để thực hiện mỗi tiết dạy giáo viên cần hiểu thật rừ, nắm vững nội dung, yêu cầu cuả từng tiết (toàn bài phải đọc giọng như thế nào? tốc độ cường độ, chỗ nào phải nhấn giọng, hạ giọng, …..) Nắm chắc đặc trưng của phân môn tập đọc khối 2 trong giờ học tôi phân bố thời gian theo trình tự giáo án chú trọng các yểu tố, đọc mẫu của giáo viên, nếu giáo viên đọc mẫu tốt cũng là dạy cho học sinh được rất nhiều, đọc câu, đoạn nhằm minh họa, hướng dẫn gợi ý giỳp học sinh tự tìm cách đọc. Trong chương trình tiếng việt phân môn tập đọc có nhiệm vụ rõ ràng đó là rèn cho học sinh kỹ năng đọc,  nghe, nói, viết. Đọc là quá trình tiếp nhận thụng tin do đó các kỹ năng đọc, nghe,  nói, viết có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, sự tạo thành các kỹ năng này giúp học sinh đạt kết quả cao trong giao tiếp. qua quá trình tìm hiểu công việc tập đọc của học sinh và công tác giảng dạy của giáo viên đối với phân môn tập đọc trong trường tiểu học đồng thời thông qua chất lượng kiểm tra cuối năm ,tôi thấy lớp 2A, 2B có nhiều tiến bộ song kết quả chưa hẳn là cao.Với sự tìm tòi sáng tạo trong chuyên môn, tôi cảm thấy thầy và trò còn phải cố gắng nhiều .                                                                                     
Trên đây là một số kinh nghiệm về phương pháp dạy Tập đọc cho học sinh lớp 2 nhằm nâng cao chất lượng giờ dạy môn Tập đọc của tôi đó được đúc rút qua nghiên cứu và thực tế giảng dạy. Trong quá trình viết chuyên đề này hẳn không tránh khỏi những sai sót. Tôi rất mong được sự góp ý của Hội đồng khoa học các cấp và các đồng nghiệp để ý kiến tôi đưa ra được hoàn thiện hơn nữa.
                                                                
                 Tôi xin chân thành cảm ơn!
An Sinh, ngày 15 tháng 5 năm 2010
                                                                             Người viết
 
 
 
                                                                                 Phạm Thị Thạo
 
MỤC LỤC
 
PHẦN MỞ ĐẦU
I.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
 
I.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
 
I.3 THỜI GIAN ĐỊA ĐIỂM
 
I.4 ĐÓNG GÓP MỚI VỀ MẶT LÝ LUẬN VỀ MẶT THỰC TIỄN.
 
I.4.1 NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN:
 
I.4.2 NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN:
    
                                               
 
II. NỘI DUNG
 
II.1 Chương 1: TỔNG QUAN
II.1.1 Cơ sở lý luận.
 
II.1.2 Cơ sở thực tiễn.
 
II.2 CHƯƠNG II
NỘI DUNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
 
II.2.1 MỘT SỐ KINH NGHIỆM
 
II.2.2 NGHIÊN CỨU CHƯƠNG TRÌNH SÁCH GIÁO KHOA
 
II.2.2.1 NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH
 
II.2.2.2 NGHIÊN CỨU SÁCH GIÁO KHOA.
 
II.2.2.3 NGHIÊN CỨU TÌNH TRẠNG HỌC SINH :
 
II.2.2.4:  DỰ GIỜ ĐỒNG NGHIỆP.
 
II.2.2.5:  ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
 
 
 
II.3:  CHƯƠNG 3
 
                   PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU – KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
 
II.3.1 Phương pháp nghiên cứu :
 
II.3.1.1 Phương pháp điều tra.
 
II.3.1.2. Phương pháp quan sát.
 
II.3.2.2 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết.
 
II.3.2.3 Phương pháp thực nghiệm khoa học.
 
II.3.2 Kết quả nghiên cứu:
 
                                  III. KẾT LUẬN CHUNG
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG CẤP TRƯỜNG
....................................................................................................................
....................................................................................................................
....................................................................................................................
....................................................................................................................
....................................................................................................................
....................................................................................................................
....................................................................................................................
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHÒNG GD&ĐT
....................................................................................................................
....................................................................................................................
....................................................................................................................
....................................................................................................................
....................................................................................................................

         

 
Sáng kiến kinh nghiệm