Sáng kiến kinh nghiệm

"Rèn kỹ năng nhận biết biện pháp tu từ so sánh cho học sinh lớp 3"

"Rèn kỹ năng nhận biết biện pháp tu từ so sánh cho học sinh lớp 3"

Văn học là một loại hình nghệ thuật lấy ngôn từ làm phương tiện thể hiện. Có khả năng tác động đến đời sống tâm hồn của con người. Trong đó biện pháp tu từ so sánh góp một phần không nhỏ làm lên điều này.

"Rèn kỹ năng nhận biết biện pháp tu từ so sánh cho học sinh lớp 3"
 
Phần I: lý do chọn đề tài
 
I. Cơ sở lý luận:
Xuất phát từ yêu cầu đổi mới của đất nước, trong những năm qua Đảng, Nhà nước ta đã đặc biệt quan tâm đến phát triển giáo dục. Một trong những nhiệm vụ cơ bản của giáo dục đào tạo hiện nay là: hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh một cách toàn diện theo mục tiêu phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.
Văn học là một loại hình nghệ thuật lấy ngôn từ làm phương tiện thể hiện. Có khả năng tác động đến đời sống tâm hồn của con người. Trong đó biện pháp tu từ so sánh góp một phần không nhỏ làm lên điều này.
Một mặt, so sánh có khả năng khắc học hình ảnh và gây ấn tượng mạnh mẽ làm nên một hình thức miêu tả sinh động, mặt khác so sánh còn có tác dụng làm cho lời nói rõ ràng, cụ thể sinh động, diễn đạt được mọi sắc thái biểu cảm. So sánh tu từ còn là phương thức bộc lộ tâm tư tình cảm một cách kín đáo và tế nhị. Như vậy đối với tác phẩm văn học nói chung so sánh mang chức năng nhận thức và biểu cảm.
Nhờ những hình ảnh bóng bảy, ước lệ, dùng cái này để đối chiếu cái kia nhằm diễn tả những ngụ ý nghệ thuật mà so sánh tu từ được sử dụng phổ biến trong thơ ca, đặc biệt là thơ viết cho thiếu nhi. So sánh tu từ giúp các em hiểu và cảm nhận được những bài thơ, bài văn hay, từ đó góp phần mở mang tri thức làm phong phú về tâm hồn, tạo hứng thú khi viết văn, rèn luyện ý thức, yêu quý Tiếng Việt giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt cho học sinh.
* Mục đích của đề tài:
Góp phần giúp học sinh củng cố lý thuyết về cách dùng từ so sánh, từ đó học sinh biết phân biệt, biết cách so sánh tu từ.
Giúp học sinh tiếp cận kịp thời với sách giáo khoa đồng thời giúp giáo viên có được các phương pháp rèn luyện học sinh kỹ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh ở lớp 3.
II. Cơ sở thực tiễn:
1. Về sách giáo khoa:
Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 3 hiện nay nói chung và phân môn Luyện từ và câu nói riêng còn tồn tại một số điểm chưa hợp lý: mặc dù SGK đã chú trọng phương pháp thực hành nhưng những bài tập sáng tạo vẫn còn ít, đơn điệu, kiến thức dạy học sinh còn mang tính trừu tượng nên học sinh còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình lĩnh hội các kiến thức mới.
2. Về phía giáo viên:
Người giáo viên còn gặp không ít khó khăn như cơ sở vật chất, phương tiện dạy học và tài liệu tham khảo còn ít. Một số bộ phận nhỏ giáo viên vẫn chưa chú trọng quan tâm đến việc lồng ghép trong quá trình dạy học giữa các phân môn của môn Tiếng Việt với nhau, để khơi dậy sự hứng thú học tập và sự tò mò của phân môn này với phân môn khác trong môn Tiếng Việt.
3. Về phía học sinh:
Do khả năng tư duy của học sinh còn dừng lại ở mức độ tư duy đơn giản, trực quan nên việc cảm thụ nghệ thuật tu từ so sánh còn hạn chế. Vốn kiến thức văn học của học sinh, nhất là học sinh vùng thôn quê của chúng tôi còn rất hạn chế do nguồn sách báo, tài liệu văn học còn ít ỏi. Vì đa số các em đều là con em gia đình thuần nông. Một số em nhận biết về nghệ thuật còn hạn chế, học sinh chỉ mới biết một cách cụ thể. Nên khi tiếp thu về nghệ thuật so sánh tu từ rất khó khăn. Vì vậy đòi hỏi người giáo viên cần hướng dẫn một cách tỷ mỷ thực tế.
* Qua khảo sát chất lượng về kỹ năng nhận biết biện pháp tu từ so sánh của học sinh lớp 3 trong học kỳ I năm học 2010-2011 tôi đã thu được kết quả như sau:
- Tổng số học sinh lớp 3B là 24 em:
Số học sinh đạt yêu cầu về nhận biết tu từ so sánh
Số học sinh chưa có kỹ năng nhận biết tu từ so sánh nhanh
Số học sinh còn nhầm lẫn khi nhận biết tu từ so sánh
9/24 ≈ 37,5%
10/24 ≈ 41,7%
5/24 ≈ 20,8%
 
Phần II: Nội dung
 
I .Những vấn đề chung:
1. Cơ sở ngôn ngữ học:
Ngôn ngữ nói chung, Tiếng việt nói riêng có mối quan hệ mật thiết với phương pháp dạy học Tiếng Việt. Ngôn ngữ bao gồm một hệ thống, bao gồm các bộ phận ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp. Mỗi bộ phận của ngôn ngữ là một hệ thống nhỏ, có cơ cấu tổ chức riêng, có quan hệ chặt chẽ với nhau trong hệ thống ngôn ngữ.
2. Cơ sở lý luận dạy học:
Phương pháp dạy học Tiếng Việt là một bộ môn của khoa học giáo dục nên nó phụ thuộc vào những quy luật chung của khoa học này. Lý luận dạy học đại cương cung cấp cho phương pháp dạy học Tiếng Việt những hiểu biết về các quy luật chung của việc dạy học môn học. Nó vận dụng nguyên tắc cơ bản của lý luận dạy học theo đặc trưng của mình.
Môn Tiếng Việt là một trong những bộ môn cơ bản của nhà trường phổ thông nên phải thực hiện theo nguyên tắc giáo dục học. Bởi vậy nguyên tắc dạy học Tiếng Việt phải cụ thể hóa mục tiêu và các nguyên tắc dạy học nói chung vào bộ môn của mình.
Như vậy mục tiêu của việc dạy và học Tiếng Việt nằm trong mục tiêu chung của giáo dục nước ta trong giai đoạn mới hiện nay: Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, nhằm hình thành đội ngũ lao động có tri thức, có tay nghề, có năng lực thực hành, tự chủ, năng động sáng tạo.
3. Cơ sở thực tiễn:
Chương trình dạy học chỉ quy định phạm vi dạy học của các môn. Còn nhiệm vụ của SGK là trình bày nội dung của bộ môn một cách rõ ràng, cụ thể và chi tiết theo cấu trúc của nó. SGK có chức năng là lĩnh hội củng cố những tri thức tiếp thu được trên lớp, phát triển nhân lực trí tuệ và có tác dụng giáo dục học sinh. SGK cũng giúp giáo viên xác định nội dung và lựa chọn phương pháp, phương tiện dạy học, tổ chức tốt công tác dạy học của mình.
4. Nội dung chương trình:
Để phục vụ cho mục đích nghiên cứu đề tài, tôi thống kê phân tích các hướng nghiên cứu biện pháp so sánh trong phân môn: "Luyện từ và câu" của chương trình SGK lớp 3 phục vụ cho việc giảng dạy.
Kiến thức lý thuyết về so sánh tu từ được đưa vào giảng dạy trong chương trình lớp 3 ở phân môn: "Luyện từ và câu". Toàn bộ chương trình Tiếng Việt 3 - Tập I đã dạy về so sánh gồm 8 bài với các mô hình sau:
a) Mô hình 1:
                      So sánh: Sự vật - Sự vật.
b) Mô hình 2:
                      So sánh: Sự vật - Con người.
c) Mô hình 3:
                      So sánh: Hoạt động - Hoạt động.
d) Mô hình 4:
                      So sánh: Âm thanh - Âm thanh.
Tác giả SGK đã giúp học sinh nhận diện dạng, loại và phân biệt hiệu quả so sánh qua các dạng bài tập.
II. Những giảI pháp chủ yếu
Vì trong SGK có ít bài tập sáng tạo và còn đơn điệu, kiến thức còn mang tính trừu tượng nên giáo viên cần phải sưu tầm nhiều dạng bài sáng tạo và kiến thức cụ thể nói theo tình huống. Vì khi giáo viên đưa, cần đưa lệnh bài tập rõ ràng để học sinh hiểu được mục đích yêu cầu của bài tập.
* Ví dụ 1: Bài tập 1 (Trang 6): Tìm các từ ngữ chỉ sự vật trong khổ thơ sau:
"Tay em đánh răng
Răng trắng hoa nhài
Tay em chải tóc
Tóc ngời ánh mai"
Ta có thể đặt lệnh bài như sau:
a) Tìm các từ ngữ chỉ sự vật trong các khổ thơ sau:
b) Tím các từ ngữ chỉ vật mà con thường gặp hàng ngày (đồ dùng học sinh). Để học sinh sáng tạo kể tên các sự vật thường gặp.
* Ví dụ 2: Bài tập 2: (Trang 117).
Lệnh của bài: Tìm các từ chỉ đặc điểm trong những câu thơ sau:
Ta có thể thay lệnh: Tìm các từ chỉ đặc điểm của sự vật trong những câu thơ sau.
Khi dạy các phân môn thuộc bộ môn Tiếng Việt người giáo viên cần lồng ghép giữa các phân môn trong môn Tiếng Việt với nhau. Như khi dạy bài Tập đọc: "Hai bàn tay em" SGK Tiếng Việt 3 tập I (Trang 7). Trong bài này có rất nhiều hình ảnh tu từ so sánh giáo viên cần nhấn mạnh để gây hứng thú cho tiết tiếp theo của môn: "Luyện từ và câu".
Để học sinh học tốt môn Tiếng Việt đặc biệt là phân môn: "Luyện từ và câu" dạng bài tu từ so sánh học sinh cần nắm và làm theo các yêu cầu sau: Đọc kỹ đề bài, xác định đúng yêu cầu của bài sau đó mới làm bài.
Muốn học sinh của mình có một kỹ năng nhận biết biện pháp tu từ so sánh vững vàng đòi hỏi người giáo viên phải có nghệ thuật khi hướng dẫn bài mới như:
a) Mô hình 1:
- So sánh: Sự vật - Sự vật.
Mô hình này có các dạng sau:
                      A như B.
                      A là B.
                      A chẳng bằng B.
                      A x B; x triệt tiêu (Từ chỉ quan hệ so sánh triệt tiêu).
* Ví dụ: Tìm sự vật được so sánh với nhau trong các câu thơ, câu văn dưới đây:
                               "Hai bàn tay em
                               Như hoa đầu cành"
                                                            (Huy Cận)
"Mặt biển sáng trong như tấm thảm khổng lồ bằng ngọc thạch"
                                                                               (Vũ Tú Nam)
                               "Cánh diều như dấu á
                               Ai vừa tung lên trời"
                                                            (Lương Vĩnh Phúc)
                               "Ơ cái dấu hỏi
                               Trông ngộ ngộ ghê
                               Như vành tai nhỏ
                               Hỏi rồi lắng nghe"
                                                            (Phạm Như Hà)
Để làm tốt bài tập này học sinh phải nắm chắc các từ chỉ sự vật, từ đó học sinh sẽ tìm được sự vật so sánh với nhau trong các câu thơ, câu văn trên là:
+ "Hai bàn tay em" so sánh với "hoa đầu cành"
+ "Mặt biển" so sánh với "tấm thảm khổng lồ".
+ "Cánh diều" so sánh với "dấu á"
+ "Dấu hỏi" so sánh với "vành tai nhỏ".
Nếu giáo viên hỏi ngược lại là vì sao "Hai bàn tay em" được so sánh với "Hoa đầu cành" hay vì sao nói "Mặt biển" như "tấm thảm khổng lồ"? Lúc đó giáo viên phải hướng  học sinh tìm xem các sự vật so sánh này đều có điểm nào giống nhau, chẳng hạn:
+ Hai bàn tay của bé nhỏ xinh như một bông hoa.
+ Mặt biển và tấm thảm đều phẳng, êm và đẹp.
+ Cánh diều hình cong cong, võng xuống giống hệt như dấu á.
(Giáo viên có thể vẽ lên bảng "Cánh diều" và "Dấu á")
+ Dấu hỏi cong cong, nở rộng ở hai phía trên rồi nhỏ dần chẳng khác gì vành tai. (Giáo viên có thể cho học sinh nhìn vào vành tai bạn).
b) Mô hình 2:
- So sánh: Sự vật - Con người.
Dạng cuả mô hình so sánh này là:
            A như B:     + A có thể là con người.
                                + B sự vật đưa ra làm chuẩn để so sánh.
* Ví dụ: Tìm các hình ảnh so sánh trong các câu dưới đây:
                               "Trẻ em như búp trên cành
                               Biết ăn, biết ngủ, biết học hành là ngoan"
                                                                               (Hồ Chí Minh)
                               "Bà như quả ngọt chín rồi
                               Càng thêm tuổi tác càng tươi lòng vàng".
                                                                               (Võ Thanh An)
Với dạng bài tập này học sinh sẽ dễ dàng tìm sự vật so sánh với con người nhưng các em chưa giải thích được "Vì sao?". Chính vì thế điều đó giáo viên giúp học sinh tìm được đặc điểm chung của sự vật và con người, chẳng hạn:
"Trẻ em" giống như "búp trên cành". Vì đều là những sự vật còn tươi non đang phát triển đầy sức sống non tơ, chứa chan niềm hy vọng.
"Bà" sống đã lâu, tuổi đã cao giống như "quả ngọt chín rồi" đều phát triển đến độ già giặn có giá trị cao, có ích lợi cho cuộc đời, đáng nâng niu và trân trọng.
c) Mô hình 3:
- So sánh: Hoạt động - Hoạt động.
Mô hình này có dạng như sau:
            + A x B.
            + A như B.
* Ví dụ: Trong các đoạn trích sau, những hoạt động nào được so sánh với nhau:
+                   "Con trâu đen lông mượt
                      Cái sừng nó vênh vênh
                      Nó cao lớn lênh khênh
                      Chân đi như đạp đất"
                                                            (Trần Đăng Khoa)
+                   "Cau cao, cao mãi
                      Tàu vươn giữa trời
                      Như tay ai vẫy
                      Hứng làn mưa rơi"
                                                            (Ngô Viết Dinh)
Dạng bài này giáo viên giúp học sinh nắm chắc được từ chỉ hoạt động, từ đó học sinh sẽ tìm được các hoạt động được so sánh với nhau. Chẳng hạn:
+ Hoạt động "đi" so sánh với hoạt động "đập đất" qua từ "như".
d) Mô hình 4:
- So sánh: Âm thanh - Âm thanh:
Mô hình này có dạng sau:
            A như B:     + A là âm thanh thứ 1.
                                + B là âm thanh thứ 2.
* Ví dụ: Tìm những âm thanh được so sánh với nhau trong mỗi câu thơ văn dưới đây:
Với dạng bài tập này giáo viên giúp học sinh nhận biết được âm thanh thứ nhất và âm thanh thứ hai được so sánh với nhau qua từ "như". Chẳng hạn:
+                             "Côn Sơn suối chảy rì rầm
                               Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai"
                                                                      (Nguyễn Trãi)
"Tiếng suối" được so sánh với "Tiếng đàn cầm" qua từ "như".
Ngoài các mô hình so sánh trên học sinh còn được làm quen với kiểu so sánh: Ngang bằng và hơn kém. Chẳng hạn:
+ Trong câu:           "Cháu khỏe hơn ông nhiều!"
                                                                      (Phạm Cúc)
Kiểu so sánh hơn kém:
+ Trong câu:           "Ông là buổi trời chiều
                               Cháu là ngày rạng sáng"
                                                                      (Phạm Cúc)
Kiểu so sánh ngang bằng:
+ Trong câu:           "Trăng khuya trăng sáng hơn đèn"
                                                                      (Trần Đăng Khoa)
Kiểu so sánh hơn kém:
+ Trong câu:           "Những ngôi sao thức ngoài kia
                               Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con"
                                                                      (Trần Quốc Minh)
Kiểu so sánh hơn kém:
* Nhận xét: Khi hướng dẫn học sinh tìm biện pháp tu từ so sánh ở các ví dụ trên và tôi đã khảo sát học sinh lớp 3B năm học 2010-2011 đạt kết quả như sau:
Số học sinh đạt yêu cầu về nhận xét tu từ so sánh
Số học sinh chưa có kỹ năng nhận
                      17/24 ≈ 70,8%
                          7/24 ≈  29,2%      
 
Phần III:Kết luận  và bài học kinh nghiệm
Qua kinh nghiệm rèn kỹ năng nhận biết biện pháp tu từ so sánh cho học sinh lớp 3. Bản thân tôi thấy rằng cần hướng và rèn cho học sinh những kỹ năng sau:
- Học sinh tự củng cố vốn kiến thức của mình thông qua đọc nhiều sách báo phù hợp với lứa tuổi, xem băng hình, quan sát tranh...
- Cho học sinh giao lưu trực tiếp với các bạn trong lớp, trong trường sau mỗi bài học: "Luyện từ và câu" dạng này để học sinh khắc sâu kiến thức.
- Khi làm bài tập yêu cầu học sinh đọc kỹ đàu bài, xác định đúng yêu cầu của bài, phân biệt được chúng thuộc kiểu bài so sánh dạng nào rồi mới bắt tay vào làm bài.
Qua quá trình suy nghĩ và tìm tòi tôi đã tìm thấy một số biện pháp như đã nêu ở trên, để rèn kỹ năng nhận biết biện pháp tu từ so sánh cho học sinh lớp 3. Qua việc áp dụng những biện pháp trên tôi thấy kỹ năng nhận biết của học sinh lớp 3A tôi dạy đã được nâng lên. Tuy nhiên đó cũng có thể là những biện pháp tối ưu nhất. Tôi chỉ mạnh dạn nêu lên để bạn bè, anh chị em giáo viên cùng tham khảo. Rất mong được sự góp ý của các thầy, cô giáo và các bạn đồng nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
                                                                                   Hòa Lý, tháng 11 năm 2010
 
Sáng kiến kinh nghiệm

Một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy môn Tập làm văn miêu tả ở lớp 4

Một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy môn Tập làm văn miêu tả ở lớp 4
Bài văn miêu tả được xây dựng trên cơ sở những hình ảnh, những ấn tượng về đối tượng mà người viết thu lượm, cảm nhận được thông qua các giác quan trực tiếp của mình.

Phần Mở đầu

 
I/ Lý do chọn đề tài
 Môn tập làm văn là một môn học chính trong chương trình lớp 4, bản thân tôi đang là giáo viên trực tiếp đứng lớp giảng dạy, đón nhận chương trình thay đổi  kỹ  năng sống vào môn tập làm văn, môn đạo đức, khoa học, nên bản thân cần phải nỗ lực phấn đấu đảm nhiệm chức trách của mình đối với học sinh . Nhìn từ phía khoa học và công nghệ thì đây là thời đại văn minh thông tin với nền kinh tế dựa trên tri thức. Thời đại văn minh mới này là một bước phát triển vượt bậc so với thời đại văn minh nông nghiệp với nền kinh tế dựa trên khoáng sản là chính. Những đặc điểm chủ yếu của thời đại văn minh thông tin có thể tóm tắt trong bốn yếu tố: Thông tin- Tri thức trở thành tài nguyên quan trọng nhất. Khoa học- Công nghệ trở thành lực lượng sản xuất và trực tiếp. Hàm lượng trí tuệ trong từng sản phẩm ngày càng tăng và cuối cùng là máy tính cá nhân và Internet là phương tiện lao động phổ biến nhất và có hiệu quả nhất.
- Hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt: nghe, nói, đọc, viết để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi, thông qua việc dạy và học Tiếng Việt góp phần rèn luyện các thao tác của tư duy.
- Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên, con người, về văn hóa, văn học Việt Nam và nước ngoài.
Học Tiếng Việt, học sinh được trang bị những kiến thức cơ bản và tối thiểu cần thiết giúp các em hòa nhập với cộng đồng và phát triển  cùng với sự phát triển của xã hội. Cùng với môn Toán và một số môn khác, những kiến thức của môn Tiếng Việt sẽ là những hành trang trên bước đường đưa các em đi khám phá, tìm hiểu, nghiên cứu thế giới xung quanh và kho tàng tri thức vô tận của loài người. Trong đó phân  môn Tập làm văn là phân môn thực hành, tổng hợp của tất cả các phân môn thuộc môn Tiếng Việt (tập đọc, luyện từ và câu, chính tả, kể chuyện). Chính vì thế, việc dạy và học Tập làm văn là vấn đề luôn cần có sự đổi mới. Không thể cứ áp dụng mãi phương pháp học hôm qua vào hôm nay và mai sau.
II/ Cơ sở thực tiễn
- Đổi mới việc dạy cũng thế, trong việc thừa kế cái cũ, cái vốn có đòi hỏi phải là một sự sáng tạo. Với các phân môn khác của Tiếng Việt trong việc đổi mới nội dung và phương pháp dạy học chỉ rõ quy trình các bước lên lớp rất cụ thể rõ ràng. Còn với phân môn Tập làm văn, các nhà nghiên cứu chỉ đưa ra quy trình chung nhất cho mỗi loại bài, chủ yếu vẫn là sự sáng tạo của giáo viên khi lên lớp. Còn việc học thì sao? Ngoài SGK Tiếng Việt thì hiện nay có rất nhiều loại sách tham khảo cho học sinh, giúp cho học sinh có cái nhìn đa dang, phong phú hơn. Song những cuốn sách tham khảo của phân môn Tập làm văn lại thường đưa ra các bài văn mẫu hoàn chỉnh nên khi làm văn các em thường dựa dẫm, ỉ lại vào bài mẫu, có khi còn sao chép y nguyên bài văn mẫu vào bài làm của mình. Cách cảm, cách nghĩ của các em không phong phú mà còn đi theo lối mòn  khuôn sáo, tẻ nhạt. Từ những lý do khách quan và chủ quan trên để khắc phục những hạn chế trong việc dạy Tập làm văn ở Tiểu học, góp phần nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường, tôi đã chọn nghiên cứu dề tài: "Một số biện pháp đổi mới phương pháp  dạy môn Tập làm văn miêu tả  ở lớp 4".

phần Nội dung

 
Bài văn miêu tả được xây dựng trên cơ sở những hình ảnh, những ấn tượng về đối tượng mà người viết thu lượm, cảm nhận được thông qua các giác quan trực tiếp của mình. Văn miêu tả là thể loại văn bản mang tính chất nghệ thuật cao, mang tính sáng tạo, tính cá thể của người viết. Ngôn ngữ trong văn miêu tả là thứ ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ giầu sức gợi cảm và là ngôn ngữ của những biện pháp tu từ.
Kết cấu bài văn miêu tả cũng tuân thủ kết cấu 3 phần:
+ Mở bài: Giới thiệu đối tượng miêu tả, thể hiện tình cảm, quan hệ của người miêu tả với đối tượng miêu tả.
+ Thân bài: Tái hiện, sao chụp chân dung của đối tượng miêu tả ở những góc nhìn nhất định.
+ Kết luận: Nêu những nhận thức, suy nghĩ, tình cảm, thái độ trực tiếp của người miêu tả và của mọi người nói chung đối với đối tượng miêu tả.
 
Như vậy, bài văn là một văn  bản gồm ngôn từ, nội dung chứa trong ngôn từ chính là văn. Văn và ngữ luôn sóng đôi với nhau: văn cần đến ngữ để biểu hiện, ngữ cần đến văn để nói nên ý nghĩa. Văn là nghệ thuật của ngôn từ, văn là cái đẹp, có người lại nói văn học là nhân học, văn học là tình cảm, đạo đức lý tưởng, là tình yêu cuộc sống, yêu thiên nhiên và con người. Văn có được nhờ cảm xúc của tâm hồn, nó làm cho tâm hồn con người thêm phong phú và sâu sắc.
Chương trình Tập làm văn lớp 4 gồm 68 tiết, trong đó văn miêu tả chiếm 38 tiết gồm các mảng kiến thức sau:
- Thế nào là miêu tả?
- Quan sát để miêu tả cho sinh động.
- Trình tự miêu tả ( Người, cảnh, đồ vật, con vật, cây cối ).
- Cấu tạo đoạn văn, bài văn miêu tả ( Người, cảnh, đồ vật, con vật, cây cối)
Các kiến thức trên được cụ thể hóa thành hai loại bài. Đó là, loại bài hình thành kiến thức và loại bài luyện tập thực hành.
I/ Thực trạng việc dạy Tập làm văn - Thể loại văn miêu tả lớp 4.
1/ Tình hình chất lượng học tập  môn Tiếng Việt và phân môn Tập làm văn của học sinh.
Chương trình phân môn tập làm văn lớp 4 hiện đang học thể loại bài miêu tả, nhìn chung các em đã nắm được cấu trúc một bài văn miêu tả nhưng bài làm của các em còn viết theo một khối mòn khuôn sáo, kém hấp dẫn, ít cảm xúc và nghèo hình ảnh, đặc biệt là các em chưa biết sử dụng các biện pháp tu từ, các biện pháp nghệ thuật như so sánh, nhân hóa….
Tóm lại: Học sinh nắm được kiến thức cơ bản của phân môn luyện từ và câu nhưng khi áp dụng vào viết văn thì  các em thường mắc các lỗi trên, kết hợp với việc chưa biết sử dụng các biện pháp nghệ thuật, vốn từ lại nghèo nàn  nên bài văn miêu tả của các em còn khô khan,  lủng củng, nghèo cảm xúc. Bài văn trở thành một bảng liệt kê các chi tiết của đối tượng miêu tả.
Kết quả cụ thể như  sau:
 
Lớp
Số HS
Điểm giỏi
Điểm khá
Điểm TB
Điểm dưới TB
SL

TL%

SL
TL%
SL
TL%
SL
TL%
4B
23
2
8,7%
7
30,4%
12
52,2%
2
8,7%
 
Từ thực trạng việc dạy học phân môn Tập làm văn nói chung và việc dạy học làm văn miêu tả ở lớp 4 nói riêng tôi thấy cần thiết để có những biện pháp sáng tạo trong văn miêu tả lớp 4 góp phần nâng cao chất lượng dạy học ở Tiểu học.
II/  Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học văn miêu tả lớp 4.
1- Người giáo viên phải nắm chắc đặc điểm tâm lý của học sinh để từ đó tìm ra hướng đi đúng, tìm ra những phương pháp phù hợp khi lên lớp:
Chúng ta đã biết, tâm lý chung  của học sinh Tiểu học là luôn muốn khám phá, tìm hiểu những điều mới mẻ. Từ đó hình thành và rèn luyện cho các em quan sát,  cách tư duy về đối tượng miêu tả một cách bao quát, toàn diện và cụ thể tức là quan sát sự vật hiện tượng về nhiều khía cạnh, nhiều góc độ khác nhau, từ đó các em có cách cảm, cách nghĩa sâu sắc khi miêu tả.
ở tuổi học sinh Tiểu học từ hình thức đến tâm hồn, mọi cái mới chỉ là sự bắt đầu của một quá trình. Do đó những tri thức để các em tiếp thu được phải được sắp xếp theo một trình tự nhất định. Trí tưởng tượng càng phong phú bao nhiêu thì việc làm văn miêu tả sẽ càng thuận lợi bấy nhiêu.
Văn miêu tả là loại văn thuộc phong cách nghệ thuật đòi hỏi viết bài phải giàu cảm xúc, tạo nên cái " hồn" chất văn của bài làm. Muốn vậy giáo viên phải luôn luôn nuôi dưỡng ở các em tâm hồn trong sáng, cái nhìn hồn nhiên, một tấm lòng dễ xúc động và luôn hướng tới cái thiện.
2- Cần giúp học sinh hiểu rõ những đặc điểm cơ bản của văn miêu tả ngay từ tiết đầu tiên của thể loại bài này.
      Văn miêu tả mang tính chất thông báo thẩm mỹ, dù miêu tả bất kỳ đối tượng nào, dù có bám sát thực tế đến đâu thì miêu tả cũng không bao giờ là sự sao chép, chụp ảnh lại những sự vật hiện tượng một cách máy móc mà là kết quả của sự nhận xét, tưởng tượng, đánh giá hết sức phong phú. Đó là sự miêu tả thể hiện được cái riêng biệt của mỗi người.
Nhà văn Phạm Hổ cho rằng: "Cái riêng, cái mới trong văn miêu tả phải gắn với cái chân thật". Văn miêu tả không hạn chế sự tưởng tượng, không ngăn cản sự sáng tạo của ngườu viết nhưng như vậy không có nghĩa là cho phép người viết "bịa" một cách tùy ý. Để tả hay, tả đúng thì phải tả chân thật, giáo viên cần uốn nắn để học sinh tránh thái độ giả tạo, giả dối, bệnh công thức sáo rỗng, thói già trước tuổi.
Mặt khác giáo viên cần giúp các em nắm được: trong văn miêu tả, ngôn ngữ sử dụng phải là ngôn ngữ giàu hình ảnh, giàu cảm xúc, giàu nhịp điệu âm thanh, đây là một trong những miêu tả trong sinh học, địa lý… và các thể loại văn khác.
Từ việc hiểu rõ đặc điểm của thể loại văn miêu tả, hiểu rõ con đường mình cần đi và đích mình cần tới, chắc chắn học sinh sẽ thận trọng hơn khi chọn lọc từ ngữ, sẽ gọt giũa kỹ hơn từng lời, từng ý trong bài văn và như  vậy chất lượng bài làm của các em sẽ tốt hơn.
3- Cung cấp vốn từ và giúp học sinh biết cách dùng từ đặt câu, sử dụng các biện pháp và giải pháp nghệ thuật khi miêu tả là hết sức cần thiết.
Muốn một bài văn hay, có "hồn", có chất văn thì các em phải có vốn từ ngữ phong phú và phải biết cách lựa chọn từ ngữ khi miêu tả cho phù hợp, Chính vì vậy giáo viên cần chú ý cung cấp vốn từ cho các em khi dạy tập đọc, luyện từ và câu và cả trong khi dạy các môn khác hay trong những buổi nói chuyện trong các tiết sinh hoạt. Hướng dẫn các em lập sổ tay văn học theo các chủ đề, chủ điểm, khi có một từ hay, một câu văn hay các em  ghi vào sổ tay theo từng chủ điểm và khi làm văn có thể sử dụng một cách dễ dàng.
Giáo viên cần tiến hành theo mức độ yêu cầu tăng dần, bước đầu chỉ yêu cầu học sinh đặt câu đúng, song yêu cầu cao hơn là phải đặt câu có sử dụng biện pháp so sánh, nhân hóa, có dùng những từ láy, từ ngữ gợi tả hình ảnh, âm thanh hay những từ biểu lộ tình cảm.
* Khi  làm một bài văn miêu tả về con mèo chúng ta cần miêu tả:
- Chú ta có cái đuôi thon dài như một cái măng ngọc.
Giáo viên hỏi: Em nào nhận xét cách đặt câu hỏi của bạn? Học sinh có thể nhận xét: bạn đã sử dụng biện pháp so sánh để so sánh cái đuôi mèo như một cái măng ngọc.
Giáo viên cho học sinh thảo luận nhóm đôi tìm câu khác để miêu tả cái đuôi của chú mèo sao cho sinh động hơn:
- Lúc chú ngồi, hai chân sau xếp lại, hai chân trước chống lên, đăm chiêu nhìn và nghe ngóng, cái đuôi mềm mại, phe phẩy như làm duyên.
- Hay: Cái đuôi dài trắng điểm đen phe phất thướt tha cùng với tấm thân thon dài mềm mại, uyển chuyển trông thật đáng yêu.
Như vậy cùng là miêu tả về bộ lông của chú gà trống, cái đuôi của chú mèo nhưng những câu văn sử dụng biện pháp so sánh, nhân hóa, có dùng những từ gợi tả, gợi cảm như các câu trên thì hiệu quả khác hẳn, ta thấy miêu tả như vậy vừa sinh động, tinh tế vừa rất tình cảm và sẽ cuốn hút người đọc, người nghe.
4- Tập làm văn và phân môn thực hành, tổng hợp tất cả những phân môn thuộc môn Tiếng Việt , vì vậy muốn dạy tốt tập làm văn cần dạy tốt
Ví dụ: Khi học về câu kể Ai là gì ? học sinh hiểu tác dụng, cấu tạo của kiểu câu này, biết nhận ra nó trong đoạn văn và từ đó học sinh biết đặt câu kể Ai là gì ? để  giới thiệu hoặc nêu nhận định về một con người, một vật:
                        Chích bông là con chim rất đáng yêu.
                        Hoa đào, hoa mai là bạn của mùa xuân.
                        Sầu riêng là loại trái quý của miền Nam.
- Nội dung của bài văn có hấp dẫn, có lôi cuốn được người đọc hay không một phần phụ thuộc vào hình thức biểu hiện bên ngoài của nó, đó chính là chữ viết. Vì vậy muốn có bài văn hấp dẫn thì giáo viên chú ý rèn kỹ năng viết cho học sinh trong các giờ chính tả. Chính tả giúp học sinh viết đúng, viết nhanh, viết đẹp và trình bày rõ ràng, sạch sẽ.
- Nếu như tập đọc rèn kỹ năng cảm thụ cho học sinh, chính tả rèn kỹ năng viết cho học sinh thì phân môn kể chuyện rèn kỹ năng nói hay cách nói khác là kỹ năng sản sinh văn bản dưới dạng nói của học sinh. Kể chuyện vừa bồi dưỡng tình cảm, giúp học sinh biết quý trọng người tốt, phê phán cái xấu, vừa giúp học sinh học tập cách miêu tả, cách diễn đạt trong mỗi câu chuyện.
Tóm lại các phân môn của Tiếng Việt tuy mỗi phân môn có nội dung riêng, phương pháp riêng nhưng chúng không hoàn toàn độc lập với nhau mà luôn bổ sung cho nhau, kiến thức của phân môn này hỗ trợ cho việc học những phân môn khác. Với phân môn Tập làm văn là phân môn thực hành tổng hợp của những phân môn khác, muốn học tốt Tập làm văn học sinh cần học tốt các phân môn còn lại.
5- Hướng dẫn học sinh xây dựng đoạn văn mở bài và kết bài.
Bài văn không thể thiếu phần mở bài và kết bài, những phần này thường thu hút người đọc, người nghe chú ý cách đặt vấn đề và cách cảm nghĩ về vấn đề mà người trình bày. Chính vì vậy việc rèn luyện cho học sinh xây dựng một đoạn văn mở bài và kết bài là rất cần thiết.
- Đoạn văn mở bài: Có hai cách mở bài mà học sinh được học đó là mở bài trực tiếp và mở bài gián tiếp. Không nhất thiết phải gò bó học sinh làm mở bài theo cách nào để cho các em tự chọn cho mình cách mở bài hợp lý nhất và phù hợp với khả năng của từng em. Mở bài gián tiếp có thể xuất phát từ một vấn đề mình cần nói tới, có thể bắt đầu bằng những câu thơ, những câu hát,…nhưng phải bám sát vào yêu cầu của đề, không lan man, xa đề, không rườm ra. Giáo viên có thể cho học sinh làm việc nhóm đôi hoặc cá nhân tự nêu cách vào bài của mình, sau đó cho các bạn nhận xét. Chẳng hạn với bài tả con mèo, một học sinh mở bài:''Hè vừa rồi, mẹ em đi chợ mua được một con mèo tam thể. Chú ta là thành viên thứ năm của gia đình em, nay đã được bốn tháng."
- Giáo viên nêu câu hỏi: Đây là cách vào bài nào?( trực tiếp)
- Giáo viên nêu yêu cầu để học sinh nêu cách mở bài khác sinh động hơn:" Nhà em đã từ lâu không có một chú chuột nào dám bén mảng tới vì có một chú lính gác cừ khôi, đó chính là chú Mướp. Mướp ta đã được một năm tuổi, nó thật hiền dịu nhưng cũng thật tinh nhanh, nó như người bạn thân của em."
 
Hay với đề bài miêu tả cây đa cổ thụ nơi làng quê, học sinh mở bài như sau:
"ở đầu làng em có một cây đa cổ thụ nó dễ phải bằng trăm năm tuổi. Cả làng gọi đó là cây đa ông Đài , vì ông Đài là người trồng ra nó, nhưng ông Đài là ai, sống và chết từ bao giờ thì cả làng không ai nhớ cả."
Học sinh khác lại viết:"Từ bến đò phía xa em đã nhìn thấy làng em. Phải qua một cánh đồng bao la, một con đường liên xã dài hơn hai cây số, em đã nhìn thấy làng quê yêu dấu: Cây đa cổ thụ in bóng xanh thẫm trên bầu trời. Mỗi lần đi xa về, em cảm động tưởng như cây đa làng quê đang giơ tay vẫy chào, đón đợi."
Từ các cách mở bài khác nhau các em nhận xét và tìm ra ý đúng, ý hay để mở bài một cách hợp lý nhất.
- Đoạn văn kết bài: Kết bài tuy chỉ là một phần nhỏ trong bài văn nhưng lại rất quan trọng bởi đoạn kết bài thể hiện được nhiều nhất tình cảm của người viết với đối tượng miêu tả. Thực tế cho thấy học sinh thường hay liệt kê cảm xúc của mình làm phần kết luận khô cứng, gò bó, thiếu tính chân thực. Chủ yếu các em thường làm kết bài không mở rộng, kết bài như vậy không sai nhưng chưa hay, chưa hấp dẫn người đọc. Vì vậy đòi hỏi người giáo viên phải gợi ý để học sinh biết cách làm phần kết bài có mở rộng bằng cảm xúc của mình một cách tự nhiên thông qua những câu hỏi mở, sau đó cho các em nhận xét, sửa sai và chắt lọc để có được những kết bài hay.
ê"Cây gạo có thể sống đến nghìn năm. Nó là nhân chứng thầm lặng của dòng đời. Cô giáo em nói thế. Đi học về, đứng trên bên đò, hoặc đi xa về, ngắm nhìn ba cây gạo, em thấy lòng bồn chồn xôn xao. Cây gạo là hồn quê, là tình quê vơi đầy."
Văn chương không phải là sợ đúng, sai với làm văn đúng thôi chưa đủ phải thấm đượm cảm xúc của người viết. Song tình cảm không phải thứ gò ép bắt buộc, tình cảm ấy phải chân thực, hồn nhiên, xuất phát từ chính tâm hồn các em. Bài văn không thể hay nếu thiếu cảm xúc của người viết, cảm xúc không chỉ bộc lộ ở phần kết bài mà còn thể hiện ở từng câu, từng đoạn của bài. Vì vậy giáo viên cần chú ý rèn cho học sinh cách bộc lộ cảm xúc trong bài văn một cách thường xuyên liên tục, từ tiết đầu tiên của mỗi loại bài đến những tiết luyện tập xây dựng đoạn văn, tiết viết bài và ngay trong tiết trả bài nữa.
6- Chuẩn bị kỹ càng phần củng cố bài trong các tiết tập làm văn:
Củng cố bài là phần chiếm không nhiều thời gian trong cả tiết học nhưng lại là lúc giáo viên tóm tắt toàn bộ nội dung kiến thức của bài và mở ra hướng kiến thức mới cho tiết học sau, vì vậy cần chú ý ở phần củng cố bài hấp dẫn, thu hút được sự chú ý của các em.
- Như trên đã nói, cần giúp học sinh nhìn nhận mọi sự vật ở nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau, kích thích trí tưởng tượng, sáng tạo của các em nên ở phần củng cố bài, giáo viên không nên đưa ra những bài văn mẫu hoàn chỉnh làm các em bắt trước, sao chép, dễ tạo cho các em cách làm văn sáo rỗng, na ná như nhau mà nên đưa ra những đoạn văn miêu tả những tác giả khác nhau. Cùng trong một tiết học, có thể đưa ra nhiều đoạn văn miêu tả toàn diện, phong phú hơn và từ đó các em sẽ biết chắt lọc, tìm tòi những chi tiết đặc sắc, học tập được các câu, các từ hay, cách diễn đạt hợp lý cho bài làm của mình.
Chẳng hạn, trong tiết luyện tập xây dựng đoạn văn miêu tả con vật, phần củng cố bài, giáo viên có thể đọc cho các em nghe một vài đoạn như sau:
"Con Rô sạch sẽ lắm. Mỗi lần mẹ gọi : "Rô đi tắm" là nó vẫy đuôi chạy theo, ngoan ngoãn như một đứa bé được nuông chiều. Thân hình nó không hề có một con bọ, con rận  nào cả. Không biết mẹ dạy con Rô từ bao giờ mà nó biết đi vệ sinh vào một chỗ phía sau nhà. Nó rất ý tứ.  Mỗi khi có khách đến chơi nhà nó nằm im trên tấm đệm, đôi tai vểnh lên nghe bố mẹ và khách nói chuyện. Khách đứng dậy ra về, con Rô cũng theo bố mẹ đi ra cửa như để tiễn chân khách…
Các đoạn văn đưa ra cũng không nên quá dài hay quá ngắn vì nếu dài quá học sinh sẽ khó tiếp thu, ngắn quá sẽ không đảm bảo nội dung. Đặc biệt đoạn văn phải được diễn đạt mạch lạc đúng cấu trúc ngữ pháp, lời văn giản dị, câu văn giàu hình ảnh và phải mang tính mẫu mực cả về nội dung và hình thức.
- Khi đưa ra các đoạn văn mẫu cần phải phân tích, đánh giá để học sinh thấy được cái hay, cái đẹp trong từng đoạn văn, giúp học sinh nhận rõ nội dung miêu tả, sự khác biệt trong miêu tả và nét đặc sắc trong hành văn.
Ví dụ: Đọc cho học sinh nghe đoạn văn " Những cánh bướm trên bờ sông" : "Ngoài giờ học, chúng tôi tha thẩn ở bờ sông bắt bướm. Chao ôi, những con bướm đủ màu sắc, đủ hình dáng. Con xanh biếc pha đen như nhung, bay nhanh loang loáng. Con vàng sẫm nhiều hình mặt nguyệt, ven cánh có răng cưa, lượn lờ đờ như trôi trong nắng. Con bướm quạ to bằng hai bàn tay người lớn, mầu nâu xỉn, có hình đôi mắt tròn, vẻ dữ tợn. Bướm trắng bay theo đàn líu ríu như hoa nắng. Loại bướm nhỏ đen kịt, là là theo chiều gió hệt như tàn than của những đám đốt hương…"
Phân tích: Đoạn văn ngắn gọn nhưng đã miêu tả khá sinh động vô số loài bướm. Hình ảnh những chú bướm hiện lên qua con mắt của mấy cậu học trò vốn say mê với thiên nhiên. Một từ tha thẩn miêu tả các cậu ra bờ sông bắt bướm, một từ chao ôi diễn tả cảm xúc mạnh mẽ trong lòng các cậu đến bật thành tiếng kêu chứng tỏ sự kinh ngạc và lòng say mê của các cậu học trò đến tột độ, tạo nền cho bài miêu tả, tạo nền cho hình ảnh những cánh bướm xuất hiện. Liên tiếp sau đó, mỗi câu văn được tác giả dùng để nói tới một con bướm. Mỗi con bướm lại tả bằng các tính từ, các hình ảnh so sánh gợi tả vẻ đẹp đầy hấp dẫn: Đen như nhung, loang loáng, vàng sẫm, lượn lờ đờ như trôi trong nắng, líu ríu như hoa nắng…Tác giả đã khéo chọn những hình ảnh mới mẻ, độc đáo để so sánh làm nổi bật dáng bay của từng loại bướm. Nó làm nên vẻ đẹp hấp dẫn riêng của đoạn văn miêu tả này.
Việc đưa ra đoạn văn mẫu cùng với lời phân tích rõ ràng như vậy sẽ giúp học sinh hình dung ra đối tượng miêu tả một cách cụ thể, sinh động hơn, giúp học sinh vận dụng cách dùng từ đặt câu vào bài viết của mình.
7- Thực hiện nghiêm túc tiết trả bài:
Tất cả những công việc, từ những việc làm thông thường hàng ngày đến việc nghiêm túc đều thực hiện theo một chu trình nhất định, bắt đầu từ việc lập kế hoạch đến việc triển khai thực hiện kế hoạch đó và cuối cùng là khâu kiểm tra đánh giá lại những việc đã làm so với kế hoạch đó và cuối cùng là khâu kiểm tra đánh giá lại những việc đã làm so với kết quả bỏ qua bất cứ khâu nào trong các khâu trên, nhất là các khâu kiểm tra, đánh giá: có kiểm tra đánh giá thì mới có thể biết được những ưu, khuyết điểm trong công việc đã thực hiện, để điều chỉnh cho những việc tiếp theo.
Dạy tập làm văn cũng không nằm ngoài chu trình chung đó. Mỗi loại bài thường dành một tiết kiểm tra để học sinh thực hành viết văn, quá trình thực hành ấy cần được xem xét, đánh giá rút kinh nghiệm thật cẩn thận, nghiêm túc thì mới có tác dụng rèn kỹ năng viết văn cho học sinh, tổ chức rút kinh nghiệm thực hiện tiết trả bài chính là thực hiện khâu cuối cùng "kiểm tra, đánh giá "nhằm mục đích giúp học sinh hiểu được những nhận xét chung của giáo viên và kết quả bài viết của cả lớp để liên hệ với bài làm của mình giúp học sinh biết sửa lỗi dùng từ, ngữ pháp, diễn đạt, chính tả, bố cục bài của mình và của các bạn, từ đó học sinh có thể học hỏi những câu văn, đoạn văn hay của bạn. Với mục đích như vậy thì tiết trả bài không thể làm qua loa đại khái, càng không thể bớt xén thời lượng.
Trong tiết trả bài, ngoài việc tiến hành các trình tự như trong sách bài soạn đã hướng dẫn, giáo viên cần thay đổi hình thức hoạt động để học sinh đỡ nhàm chán. Sau phần giáo viên nhận xét chung, giáo viên cần chữa lỗi cho học sinh theo từng loại lỗi thống kê khi chấm bài và nêu các câu văn, đoạn văn hay đã chuẩn bị trước. Sau đó, giáo viên trả bài và có thể tổ chức cho học sinh thảo luận theo nhóm bàn để các em trao đổi với bạn về cách làm bài của mình, đọc cho nhau nghe các câu hoặc giúp nhau sửa lỗi  trong bài làm. Từ đó học sinh sẽ thấy rõ ưu, nhược điểm trong bài làm của mình, của bạn và biết tự sửa chữa hoặc viết lại đoạn văn của mình cho đạt yêu cầu. Sau những trao đổi như vậy cũng sẽ giúp học sinh tránh được những lỗi không đáng có trong thực hành viết văn và trong cả giao tiếp hàng ngày.
8- Chuẩn bị chu đáo kế hoạch bài học góp phần làm nên 50% sự thành công trong dạy học:
Trong bất kỳ hoạt động nào việc chuẩn bị cũng hết sức quan trọng, chuẩn bị cũng chính là kế hoạch cho công việc mình định làm, đó là việc làm đầu tiên, tất yếu của mỗi hoạt động. Soạn bài là việc làm đầu tiên, tất yếu của người giáo viên, Bài soạn chính là bản kế hoạch của giờ lên lớp, ngày nay được gọi là kế hoạch bài học.
Để có được kế hoạch bài học cụ thể, rõ ràng có chất lượng, có tác dụng thiết thực, đem lại hiệu quả cao, người giáo viên phải huy động tối đa tất cả năng lực, phẩm chất của mình như năng lực hiểu biết và chế biến tài liệu, năng lực hiểu học sinh, năng lực ngôn ngữ…lòng yêu nghề, niềm tin sự nhiệt tình và lòng đam mê nghề nghiệp. Giáo án có chất lượng phải chuyển hoá được những kiến thức của sách vở đến với học sinh một cách nhẹ nhàng, tự nhiên tức là giáo án được thực hiện hoá qua bài giảng trên lớp chứ không thể là giấy vô tri, vô giác chỉ để giám hiệu ký duyệt cho "đủ thủ tục"
Mỗi giáo viên cần nhận xét sâu sắc tầm quan trọng của việc chuẩn bị kế hoạch bài học trước khi lên lớp, kế hoạch ấy có thể được ghi chép lại cẩn thận trong giáo án, cũng có thể là tự suy nghĩ sắp xếp trong trí óc miễn là nó phải được thực hiện một cách nghiêm túc và hết sức tự giác. Có kế hoạch bài giảng chu đáo tức là giáo viên đã chuẩn bị tốt mọi nội dung thực hiện trên lớp, từ tiết lý thuyết đến các tiết thực hành xây dựng đoạn văn và tiết trả bài, từ phần kiểm tra bài cũ đến phần củng cố bài học. Như vậy giáo viên có thể thực hiện được bảy biện pháp trên một cách dễ dàng và chất lượng dạy học chắc chắn sẽ được nâng cao.
Qua nghiên cứu thực tế tôi có thể mạnh dạn đưa ra các giai đoạn của việc soạn giáo án một bài cụ thể như sau:
¡ Giai đoạn 1: Xác định mục tiêu bài học
¡ Giai đoạn 2: Chuẩn bị đồ dùng, phương tiện dạy học
¡ Giai đoạn 3:Lựa chọn phương pháp dạy học
¡ Giai đoạn 4: Thiết kế các hoạt động dạy học
Muốn có đầy đủ thông tin và kiến thức cho một bài giảng, thực hiện được tốt các giai đoạn trên, người giáo viên cần không ngừng học tập nâng cao trình độ, tham gia đủ các lớp học chuyên môn, các buổi hội thảo do nhà trường và các cấp quản lý triển khai, chịu khó sưu tầm các loại sách vở liên quan đến chuyên môn, tự lập cho mình tủ sách riêng để tiện tra cứu khi cần thiết. Đặc biệt trong thời đại mà khoa học công nghệ thông tin đã phát triển mạnh mẽ, người giáo viên hơn ai hết phải là người đi đầu trong việc tự học tập để tiếp thu khoa học công nghệ thông tin hiện đại ấy. Việc tra cứu tìm tư liệu trên mạng cũng rất đơn giản, lại không tốn kém đáng kể về kinh tế, ngoài giờ lên lớp, mỗi ngày ta có thể dành một thời giờ để lên mạng tìm những thông tin cần thiết cho các bài giảng, như vậy vốn kiến thức của chúng ta sẽ phong phú lên rất nhiều và bài giảng chắc chắn sẽ hấp dẫn hơn, nhất là với việc dạy văn miêu tả thì điều này lại càng cần thiết.
Dạy văn miêu tả lớp 4 là một việc làm khó, nhất là nếu chúng ta đơn độc thực hiện lại càng khó hơn nên rất cần sự đóng góp trí tuệ của tập thể, của bạn bè đồng nghiệp. Vì vậy, chúng ta cần nghiêm túc trao đổi cùng bạn bè đồng nghiệp về chuyên môn nghiệp vụ trong các buổi sinh hoạt chuyên môn.
Mỗi buổi có thể trao đổi về một chủ đề, về một tiết tập làm văn nào đó, có thể cả tổ xây dựng mỗi tiết một giáo án mẫu sau đó về nhà mỗi người sẽ tuỳ thuộc vào đối tượng học sinh lớp mình mà cụ thể hoá thành kế hoạch của riêng mình. Như vậy sẽ phát huy được sức mạnh của tập thể và mỗi chúng ta cũng học hỏi được từ đồng nghiệp rất nhiều.
Tóm lại: Dạy như sách đã khó nhưng dạy để sách trở thành vốn tri thức phát triển của học sinh lại càng khó hơn. Với tập làm văn, người dạy phải gửi cả tâm hồn mình vào bài dạy, thầy trò phải cùng đắm  mình vào đối tượng miêu tả theo một dòng cảm xúc, cùng hoà chung tình cảm để cùng tìm hiểu về cảm nhận với niềm say mê, thích thú. Muốn vậy người giáo viên phải có sự chuẩn bị kỹ lưỡng trước khi lên lớp. Chuẩn bị đầy đủ về tâm thế, về nội dung, phương pháp, đồ dùng, phương tiện dạy học, mục tiêu, ý nghĩa giáo dục, khả năng, trình độ của học sinh. Phải tìm tòi, nghiên cứu để có được những câu hỏi gợi mở phù hợp với trình độ học sinh, chuẩn bị cả những từ, những câu văn thích hợp để sửa sai hoặc để làm mẫu cho học sinh. Nó đòi hỏi giáo viên phải nỗ lực sáng tạo trong suốt quá trình dạy học. Chỉ có nghiên cứu sáng tạo mới cho giáo viên có được những giờ dạy văn miêu tả mới mẻ, hiệu quả cao. Nếu không có những sáng tạo mới trong dạy tập làm văn nhất là văn miêu tả thì giờ dạy văn miêu tả chỉ là sự kiệt kê các chi tiết của đối tượng miêu tả, giờ học sẽ gượng ép, gò bó, thiếu tâm hồn văn học.
III/ Kết quả
Sau khi áp dụng những biện pháp trên vào dạy Tập làm văn  lớp 4B kết quả cụ  thể như sau:
 
Lớp
Số học sinh
Điểm 9 - 10
Điểm 7 - 8
Điểm 5 - 6
Điểm < 5
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
4B
23
5
21,7%
10
43,5%
7
30,4
1
4,4%
 
Bài làm của nhiều  em đã tiến bộ rõ rệt, các em đã biết viết văn miêu tả giàu hình ảnh, giàu cảm xúc, đặc biệt nhiều em đã biết sử dụng các biện pháp nghệ thuật như: Nhân hóa, so sánh, dùng điệp từ, điệp ngữ…bài làm sinh động, cảm xúc chân thật. Tuy vẫn còn một số ít bài viết khô cứng, liệt kê các chi tiết của đối tượng miêu tả nhưng không có hiện tượng sao chép văn mẫu, không có bài làm na ná như nhau. Mặc dù chỉ là sự chuyển biến ít ỏi song trong giảng dạy Tập làm văn thì kết quả như vậy cũng là điều đáng quý. Mặt khác các biện pháp trên mới chỉ được áp dụng khi dạy văn miêu tả lớp 5, nếu có thể thực hiện từ khi dạy Tập làm văn miêu tả ở lớp 2, 3,4 thì tôi tin chắc rằng chất lượng làm văn của các em sẽ khả quan hơn rất nhiều.
 
 
 
PHần Kết luận
 
I/  Kết luận:
Trước những yêu cầu đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo, thực hiện đổi mới chương trình sách giáo khoa nhằm đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực trong công cuộc đổi mới đất nước trong giai đoạn hiện nay. Việc nâng cao chất lượng dạy học là một trong những yêu cầu trọng tâm của chiến lược phát triển giáo dục từ nay đến 2010. Một trong những yếu tố quyết định đến chất lượng giáo dục đó là đội ngũ giáo viên, để đáp ứng nhu cầu đổi mới giáo dục, giáo viên phải không ngừng học hỏi, sáng tạo trong giảng dạy, đem hết khả năng và niềm đam mê, lòng nhiệt tình cho công tác thì mới có được những kết quả như mong muốn. Với việc dạy tập làm văn, nhất là văn miêu tả 4 thì việc làm này càng cần thiết hơn bởi việc dạy tập làm văn là rất khó, học sinh lớp 4 tuy đã gần cuối cấp tiểu học nhưng việc làm văn cũng mới dừng ở mức độ "tập", nội dung chương trình lại hoàn toàn mới, năm thứ 3 được thực hiện nên còn nhiều bỡ ngỡ cả về thày và trò.
Không phải ai sinh ra cũng mang sẵn trong mình một tâm hồn văn chương mà khả năng ấy phải được bồi đáp dần qua năm tháng, qua trang sách và những bài giảng hàng ngày của thày cô. Muốn có được khả năng ấy của mỗi học sinh thì chính mỗi giáo viên phải định hướng, gợi mở cho các em phương pháp học tập như những cây non được ươm trồng cần bàn tay con người chăm sóc, vun xới thì nó sẽ trở nên tươi tốt. Với học sinh lớp 4, các em không thể vừa bắt tay vào viết văn đã có được những dòng văn hay mà văn hay là kết quả của một quá trình rèn luyện liên tục, bền bỉ, dẻo dai. Văn hay không thể có được ở những học trò lơi là đèn sách. Với tinh thần đó, việc rèn kỹ năng làm văn vừa để nhằm mục đích nâng cao năng lực viết văn vừa nhằm nâng cao ý thức tự rèn luyện của học sinh. Đó chính là động lực thúc đẩy tôi hoàn thành bài tập nghiên cứu khoa học này.
II/ Bài  học kinh nghiệm
 
Từ thực tế giảng dạy, tôi thấy để nâng cao chất lượng dạy tập làm văn người giáo viên cần:
- Tìm hiểu kỹ đối tượng học sinh, đặc điểm tâm lý của học sinh, hiểu và nắm chắc đặc điểm, chức năng của văn miêu tả và cần giúp các em hiểu rõ các đặc điểm ấy ngay từ tiết đầu tiên của thể loại văn miêu tả.
- Vì tập làm văn là phân môn thực hành tổng hợp của tất cả các phân môn thuộc môn Tiếng việt nên muốn dạy tập làm văn có chất lượng cần thiết phải dạy tốt các phân môn còn lại.
- Cần chuẩn bị chu đáo trước khi lên lớp, để khi thực hiện kế hoạch bài học trên lớp giáo viên cần đọc  cho học sinh nghe các câu văn, câu thơ có sử dụng các biện pháp nghệ thuật, cung cấp cho cac em những đoạn văn mẫu…giúp các em mở rộng vốn từ, mở rộng vốn hiểu biết và từ đó học tập vận dụng vào bài làm của mình.
- Cần coi tiết trả bài như một khâu không thể thiếu của các hoạt động tiếp theo. Trả bài là tiết học mà giáo viên dành nhiều thời gian để sửa lỗi cho học sinh, giúp học sinh điều chỉnh những sai sót mắc phải trong bài viết để bài viết sau sẽ hoàn chỉnh hơn, hấp dẫn hơn.
III/ ý kiến đề xuất
Để kết quả của đề tài có thể được áp dụng rộng rãi và có hiệu quả, tôi xin có một số ý kiến đề xuất sau đây:
*Đối với Bộ GD&ĐT:
- Cần tăng thời lượng cho các tiết dạy tập làm văn xây dựng đoạn văn miêu tả để học sinh được rèn kỹ năng nhiều hơn.
- Kiểm soát các loại sách nâng cao, sách tham khảo, sách chuyên đề phục vụ cho việc dạy và học tập làm văn lớp 4.
- Nghiên cứu các ngữ liệu đưa vào sách giáo khoa cho phù hợp với tâm lý lứa tuổi, phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh.
* Đối với Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT:
- Hàng năm cần tổ chức các phong trào thi đua viết thơ văn, sáng tác nhỏ của tuổi thơ để các em có điều kiện phát huy tài năng của mình.
- Thường xuyên mở các hội thảo, nói chuyện chuyên đề với các chuyên gia về dạy và học tập làm văn để giáo viên được tiếp xúc, học hỏi kinh nghiệm trong công tác giảng dạy.
- Trong các kỳ hội giảng, hội thi nên khuyến khích giáo viên dạy tập làm văn để trao đổi tìm ra phương pháp hay.
- Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho nhà trường: Trang bị những thông tin hiện đại, máy tính nối mạng Internet để giáo viên có thể tra cứu, tìm các thông tin phục vụ cho giảng dạy.
* Đối với ban giám hiệu nhà trường:
- Do có số lượng giáo viên nhiều hơn so với quy định ( 1,17 GV/ lớp ) nên có thể bố trí để giáo viên dạy theo phân môn để tiết kiệm thời gian soạn bài, giúp giáo viên có thêm thời gian đầu tư nghiên cứu chuyên sâu những môn được phụ trách.
- Tăng cường đầu sách trong thư viện để giáo viên có đủ tư liệu tham khảo phục vụ cho giảng dạy nhất là các tạp chí: Giáo dục Tiểu học, Thế giới trong ta…
- Nâng cao hiệu quả các giờ chuyên môn, khuyến khích giáo viên đầu tư trao đổi kế hoạch bài học, cùng thống nhất soạn giáo án tập thể để phát huy sở trường của từng cá nhân và sức mạnh của tập thể.
- Hàng năm thường xuyên tổ chức cho giáo viên và học sinh đi thăm quan du lịch để nâng cao hiểu biết về cảnh vật, đất nước và con người Việt Nam.
 
Ngày 11 tháng 10 năm 2010
Người viết
 
 
 
Phạm Thị Nhung
 
Sáng kiến kinh nghiệm

Toán 2: Dạy đọc và đổi đơn vị đo độ dài

Toán 2: Dạy đọc và đổi đơn vị đo độ dài

Việc dạy các đơn vị đo độ dài và đổi đơn vị đo độ dài lớp 2 như thế nào để đạt được hiệu quả cao nhất phát huy được tính chủ động tích cực của học sinh phù hợp với yêu cầu đổi mới của phương pháp dạy học đó là nội dung tôi muốn đề cập tới trong đề tài.

Phần I. Lí do chọn đề tài
 
I. Cơ sở lí luận           
Môn toán là một trong những môn học có vị trí quan trọng ở bậc Tiểu học. Trong những năm gần đây, xu thế chung của thế giới là đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh trong quá trình dạy học. Một trong những bộ phận cấu thành chương trình toán Tiểu học mang ý nghĩa chuẩn bị  cho việc học các yếu tố đại lượng và đo đại lượng ở các lớp học, cấp học trên, đồng thời giúp học sinh những hiểu biết cần thiết khi tiếp xúc với những “tình huống toán học” trong cuộc sống hàng ngày.
Trong những năm gần đây, phong trào đổi mới phương pháp dạy học trong trường Tiểu học được quan tâm và đẩy mạnh không ngừng để ngay từ cấp Tiểu học, mỗi học sinh đều cần và có thể đạt được trình độ học vấn toàn diện, đồng thời phát triển được khả năng của mình về một môn nào đó nhằm chuẩn bị ngay từ bậc Tiểu học những con người chủ động, sáng tạo đáp ứng được mục tiêu chung của cấp học và phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước.
Dạy toán ở tiểu học vừa phải đảm bảo tính hệ thống chính xác của toán học vừa phải đảm bảo tính vừa sức của học sinh. Kết hợp yêu cầu đó là một việc làm khó, đòi hỏi tính khoa học và nhận thức, tốt về cả nội dung lẫn phương pháp. Trong chương trình dạy toán 2 việc dạy đổi đơn vị đo độ dài là một trong những nội dung được đề cập.
Một trong những nhiệm vụ cơ bản dạy đổi đơn vị đo độ dài là học sinh phải nắm được mối quan hệ giữa các đơn vị đo từ đó mới đổi được các số đo độ dài.
ii. Cơ sở thực tiễn
Khi dạy lớp 2, tôi nhận thấy việc dạy đổi đơn vị đo độ dài trong chương trình toán ở bậc tiểu học nói chung và ở lớp 2 nói riêng là hết sức cần thiết. ở lứa tuổi học sinh tiểu học, việc nắm mối quan hệ giữa các đơn vị đo còn rất nhiều hạn chế dẫn đến việc học sinh không biết đổi hoặc đổi sai. Việc dạy cho học sinh biết cách đổi đơn vị đo độ dài trong chương trình Toán lớp 2 vô cùng quan trọng, đặt nền móng vững chắc cho các em học tốt các yếu tố đại lượng và đo đại lượng của lớp trên.
Việc dạy các đơn vị đo độ dài và đổi đơn vị đo độ dài lớp 2 như thế nào để đạt được hiệu quả cao nhất phát huy được tính chủ động tích cực của học sinh phù hợp với yêu cầu đổi mới của phương pháp dạy học đó là nội dung tôi muốn đề cập tới trong đề tài.
Phần II. nội dung
I. Những nội dung đề cập
1. Học sinh không nắm được cách viết tắt của đơn vị đo. Đặc biệt là đối với học sinh yếu. Qua thực tế giảng dạy, tôi thấy một số học sinh không nắm được cách viết tắt của đơn vị đo. Nguyên nhân là do giáo viên chưa khắc sâu kiến thức, chỉ giới thiệu tên đơn vị đo, cách viết tắt đơn vị đo đó mà không cho học sinh thực hành nhìn vào cách viết tắt đọc tên đơn vị đo, viết tên đơn vị đo (cách viết tắt), các số đo độ dài mang tên đơn vị đo đó ra giấy nháp, ra bảng.
2. Học sinh không tìm được độ dài của số đo ở trên thước.
  Khi giới thiệu về các đơn vị đo, giáo viên thường chỉ nêu tên đơn vị, cách viết tắt, cách đọc đơn vị đó, chứ chưa chú ý cho học sinh nhận dạng đơn vị đo trên thước. Chính vì vậy, học sinh có thể thuộc lòng tên đơn vị đo, cách viết tắt đơn vị đo đó nhưng khi gọi học sinh chỉ độ dài ở trên thước của một số đo nào đó đã được học thì học sinh không tìm được.
3. Đối với học sinh lớp 2, việc nắm mối quan hệ giữa các đơn vị còn nhiều hạn chế. Trong chương trình sách giáo khoa, không có phần thời gian nào cho học sinh thực hành kiến thức đã học về đơn vị đo để các em hiểu một cách chắc chắn kiến thức. mà ở đây các em phải công nhận. Nếu giáo viên chỉ cho học sinh quan sát thước đo và nêu mối quan hệ giữa các đơn vị đo mà không trực tiếp cầm thước đo cụ thể thì các em rất dễ quên và không hiểu bản chất của đơn vị đó.
4. Khi đổi các đơn vị đo và giải toán có các đơn vị đo độ dài học sinh hay đổi sai hoặc còn lúng túng trong quá trình đổi các đơn vị đo độ dài hoặc khi trình bày bài toán có lời văn học sinh viết cả tên đơn vị vào phép tính hoặc câu trả lời học sinh lại viết tắt tên đơn vị đo. Ví dụ: Bài 3 trang 150: Cây dừa cao 8 m, cây thông cao hơn cây dừa 5 m. Hỏi cây thông cao bao nhiêu mét?
Một số học sinh trình bày bài giải như sau:
     Số m cây thông cao là:
     8  + 5  = 13 (m)
                  Đáp số: 13 m
Hoặc:
         Số mét cây thông cao là:
               8 m + 5 m = 13 (m)
                                         Đáp số: 13 m
Hoặc có học sinh trình bày:
         Số m cây thông cao là:
               8 m + 5 m = 13 (m)
                                         Đáp số: 13 m
 
II. Các giải pháp cụ thể
1. Truyền thụ kiến thức.
      - Khi dạy bài về đơn vị đo nào thì sau khi giới thiệu tên gọi, cách viết tắt đơn vị đo đó thì phải cho học sinh thực hành nhìn vào cách viết tắt đọc tên đơn vị đo và viết tên đơn vị đo (cách viết tắt), các số đo độ dài mang tên đơn vị đo đó ra giấy nháp, ra bảng con. Ví dụ: Bài Đê-xi-met, giáo viên chỉ vào cách viết tắt ở trên bảng (dm) gọi học sinh đọc tên đơn vị đo là đê-xi-met, sau đó cho học sinh viết tên đơn vị đo đó (cách viết tắt) ra bảng con (dm) và viết các số đo độ dài: 5 dm, 13 dm, 28 dm,…
      - Sau khi học sinh nắm được tên gọi, cách viết tắt đơn vị đo đó, giáo viên cần cho học sinh tìm độ dài của số đo cụ thể ở trên thước đo. Ví dụ: Bài đê-xi-met: Yêu cầu học sinh tìm độ dài của 1dm, 2 dm,… Học sinh có thể dùng thước đo một vật cụ thể và nêu kết quả đã đo được để khắc sâu kiến thức đã học.
    Ví dụ: Bài Đê-xi-met: Cho học sinh đo chiều dài của quyển sách, quyển vở…
      - Hướng dẫn học sinh nắm chắc và thuộc mối quan hệ giữa các đơn vị đo. Ví dụ dạy bài: Mét. học sinh phải nắm chắc và thuộc:
1 m = 10 dm
1 m = 100 cm
         Học sinh phải tự rút ra 1 m = 10 dm = 100 cm. Hai đơn vị liền kề nhau hơn kém nhau 10 lần.
        Sau đó giáo viên đặt câu hỏi:
          +Trong 3 đơn vị đo độ dài: Đề-xi-mét, Mét, Xăng-ti-mét thì đơn vị đo nào lớn nhất, đơn vị đo nào bé nhất?
          + Hãy sắp xếp 3 đơn vị đo đó theo thứ tự từ lớn đến bé và ngược lại:
        Sau đó, giáo viên cho học sinh thực hành theo nhóm bàn: mỗi bàn (đã chuẩn bị một cái thước dây) tự đo độ dài, rộng chiếc bàn của mình theo hai đơn vị đo m và dm, sau đó tự đọc và viết kết quả. Như vậy các em sẽ nắm được mối quan hệ giữa hai đơn vị đo một cách chắc chắn.
   Cụ thể chiều dài bàn là: 1m1dm = 11 dm
      Khi dạy bài khác cũng làm tương tự như vậy (Khi dạy bài đề-xi-mét cho học sinh đo kích thước gạch lát nền lớp học. Chẳng hạn kích thước viên gạch mỗi chiều là 2 dm = 20 cm)
      Khi các em đã thạo về đo độ dài của một vật cụ thể, giáo viên có thể cho học sinh tập ước lượng bằng mắt độ dài một số vật thể xung quanh như độ dài bảng, lớp học, bút chì…. Có như vậy các em làm bài mới dễ dàng.
   2. Hướng dẫn làm bài về đổi các đơn vị đo độ dài và giải các bài toán có van khi có các số đo độ dài.
      Đã nắm chắc kiến thức như vậy nhưng khi đổi các đơn vị đo độ dài và giải các bài toán có văn khi có các đơn vị đo độ dài, nhiều em cũng mắc lỗi, hay đổi sai. Giáo viên cần hướng dẫn học sinh cụ thể:
  Ví dụ: Điền vào chỗ chấm:
 1 dm = ……………………cm    (1)
 1 m = …………………….dm     (2)
 3dm5cm = ………………..cm    (3)
  Mở rộng cho học sinh khá giỏi:
 2 m = …………………….cm    (4)
 1 m2cm = ………………..cm    (5)
     Trước khi làm bài, giáo viên hướng dẫn học sinh viết các đơn vị đo độ dài đã học ra giấy nháp và tiến hành như sau:
                                             Cách thực hiện
Nháp:
* (1)  1 dm = ……………………cm   
        Viết số 1 vào cột dm. Đơn vị cần đổi là cm, ta viết số 0 vào cột cm. Nhìn vào nháp ta thấy: 1 dm = 10 cm
 * (2)  1 m = …………………….dm   
   Như trên, điền số 1 vào cột m, điền số 0 vào cột dm. Nhìn vào nháp ta thấy: 1m = 10 dm.
  * (3)  3dm5cm = ………………..cm   
Ta viết số 3 vào hàng dm, số 5 vào hàng cm. Như vậy:  3dm5cm = 35 cm
 
                  m       dm       cm
(1) đ                    1           0
(2) đ         1         0
(3) đ                    3           5
(4) đ         2         0           0 
(5) đ         1          0           2                                   
   Với học sinh khá, giỏi mở rộng cho các em đổi theo cách viết nháp trên.
   Ví dụ: (4)   2 m = …………………………….cm
      Viết số 2 ở cột m, số 0 ở cột cm, cột dm ở giữa m và cm chưa có số nào thì ta điền số 0. Nhìn vào nháp: 2 m = 200 cm
    * (5) Sau này với các bài mà yêu cầu phức tạp hơn, nếu các em có gặp trong thực tế hãy làm nháp theo cách trên.
  1m2cm = ………………..cm
   Viết số 1 vào cột m, số 2 vào cột cm, cột dm chưa có, điền số 0, ta có
  1m2cm = 102 cm
      Cách này áp dụng cho học sinh có lực học trung bình, yếu, còn đối với học sinh học khá, giỏi, học sinh dựa vào mối quan hệ giữa các đơn vị đo để làm bài tập đổi đơn vị đo độ dài.
  Ví dụ:  2 m =  ………cm
  Hướng dẫn học sinh: 1m = 100cm. Vậy 2 m = 200 cm
             Hay:   1 m 2 cm = ……….cm.
  Hướng dẫn học sinh: 1 m = 100 cm. Lấy 100 cm + 2 cm = 102 cm
   - Hướng dẫn học sinh cách trình bày bài giải toán có lời văn khi có các số đo độ dài.
    Thường khi giải bài toán có lời văn với các số đo độ dài, học sinh thường viết cả tên đơn vị đo cùng với số đo hoặc viết tắt tên đơn vị đo ở câu lời giải.
       Ví dụ: Bài 3 trang 150: Cây dừa cao 8 m, cây thông cao hơn cây dừa 5 m. Hỏi cây thông cao bao nhiêu mét?
       Một số học sinh trình bày bài giải như sau:
          Số m cây thông cao là:
               8  + 5  = 13 (m)
                  Đáp số: 13 m
      Hoặc:
          Số mét cây thông cao là:
               8 m + 5 m = 13 (m)
                                         Đáp số: 13 m
       Hoặc có học sinh trình bày:
         Số m cây thông cao là:
               8 m + 5 m = 13 (m)
                                         Đáp số: 13 m
      Giáo viên phải đưa các bài học sinh trình bày sai lên bảng, chỉ ra từng chỗ sai cụ thể cho học sinh và cho học sinh so sánh đối chiếu giữa hai bài: bài trình bày sai và bài trình bày đúng để học sinh thấy đượcc chỗ sai của mình. Nhắc học sinh: Đối với câu trả lời thì phải viết tên đơn vị do không được viết tắt (Số mét cây thông cao là:), hoặc chỉ cần trả lời: (Cây thông cao là:). Còn với phép tính chỉ viết tên đơn vị theo cách viết tắt ở kết quả của phép tính và cho vào trong ngoặc đơn:
  1. + 5  = 13 (m)
      Bài giải được trình bày như sau:
                   Số mét cây thông cao là:
                        8  + 5  = 13 (m)
                                         Đáp số: 13 m
    Hoặc:
                   Cây thông cao là:
                    8  + 5  = 13 (m)
                                         Đáp số: 13 m
iii. Kết quả kiểm chứng
       Qua việc thực hiện các cách làm trên trong quá trình giảng dạy các đơn vị đo độ dài, đổi các đơn vị đo độ dài tại lớp 2C, tôi đã thấy học sinh tiến bộ rõ rệt so với cách dạy thông thường mà trước đây tôi vẫn thực hiện và tôi áp dụng dạy tại lớp 2B.
Cụ thể:
Lớp
Tổng số
HS
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
2B
24
12 = 50%
8 = 33,3%
4 = 16,7%
0
2C
24
6 = 25%
10 = 41,7%
7 = 29,1%
1 = 4,2%
Phần iii. kết luận
i. bài học kinh nghiệm
 - Để dạy tốt các đơn vị đo độ dài và đổi đơn vị đo độ dài, trước hết giáo viên cần nghiên cứu kỹ và nắm được nội dung chương trình môn toán ở từng lớp cấp tiểu học nói chung và môn toán lớp 2 nói riêng đặc biệt là nội dung dạy các đơn vị đo độ dài và đổi đơn vị đo độ dài ở lớp 2.
          - Sau khi hướng dẫn học sinh cách đọc, cách viết tắt tên đơn vị đo, hướng dẫn học sinh tìm độ dài trên thước của số đo cụ thể và cho học sinh dùng thước đo một số đồ vật ngay tại lớp và nêu kết quả đã đo được để khắc sâu kiến thức đã học. Như vậy các em sẽ rút ra mối quan hệ giữa hai đơn vị đo một cách chắc chắn.
 - Sau khi học sinh học xong bài về đơn vị đo nào thì giáo viên phải hướng dẫn học sinh nắm chắc mối quan hệ giữa đơn vị đo đó với các đơn vị lớn hơn hoặc nhỏ hơn nó mà học sinh đã được học từ đó học sinh mới nắm được các đơn vị đo theo thứ tự từ lớn đến bé và ngược lại.
     - Khi các em đã thạo về đo độ dài của một vật cụ thể, giáo viên có thể cho học sinh tập ước lượng bằng mắt độ dài một số vật thể xung quanh như độ dài bảng, lớp học.
    - Hướng dẫn học sinh đổi bằng cách viết các đơn vị đo đã học theo thứ tự từ lớn đến bé ra giấy nháp, sau đó đưa số vào bảng như phần nội dung đã trình bày ở trên để giúp học sinh làm bài một cách dễ dàng.
    - Đối với bài toán có lời văn mà có số đo độ dài giáo viên phải hướng dẫn học sinh cách trình bày bài giải cho đúng từ câu trả lời đến các phép tính.
ii.  Đề xuất kiến nghị
  Cấp trên tạo điều kiện để giáo viên được đi tham quan, học tập các giáo viên dạy tốt, có kinh nghiệm ở trường bạn để học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
                                                         Nguyên lý, ngày 8 tháng 11 năm 2010
                                                                    Người viết kinh nghiệm
 
Sáng kiến kinh nghiệm

Toán 3: Rèn kỹ năng đọc, viết số có 4 chữ số

Toán 3: Rèn kỹ năng đọc, viết số có 4 chữ số

Có nhiều biện pháp giúp học sinh đọc viết đúng các số có nhiều chữ số phù hợp với đặc điểm tư duy của học sinh bậc tiểu học, đem lại niềm vui và hứng thú trong học toán của học sinh.

Phòng giáo dục đào tạo Trực Ninh
Trường tiểu học B Trực Đại
 
 
 
 
 
 
 
 
Sáng kiến kinh nghiệm
 
 
Đề tài
 
 
Rèn kỹ năng đọc, viết số có bốn chữ số cho học sinh lớp 3
 
 
                                   Giáo Viên : Vũ Thị Thuỷ
 
 
 
 
 
 
Năm Học : 2008 - 2009
 
 
 
 
 
 
 
 
Sáng kiến kinh ngiệm toán lớp 3
 
 
I/ Lý do chọn đề tài:
           Như chúng ta đã biết dạy học Toán ở tiểu học nhằm giúp học sinh: Có những kiến thức cơ bản ban đầu về số học các số tự nhiên, phân số, số thập phân; các đại lượng thông dụng; một số yếu tố hình học và thống kê đơn giản. Giải được các bài toán đơn giản có ứng dụng nhiều trong thực tế xây dựng nền móng toán học để các em học tiếp lên các bậc học trên đồng thời ứng dụng thiết thực trong cuộc sống hàng ngày của các em. Góp phần bước đầu phát triển năng lực tư duy, khả năng suy luận hợp lý và diễn đạt đúng (nói và viết) cách phát hiện và cách giải quyết các vấn đề đơn giản, gần gũi trong cuộc sống; kích thích trí tưởng tượng, gây hứng thú học tập toán; góp phần hình thành bước đầu phương pháp tự học và làm việc có kế hoạch, khoa học, chủ động, linh hoạt, sáng tạo.
 
Để giúp học sinh đạt được mục đích trên, giáo viên cần thiết phải có nhiều yếu tố, trong đó yếu tố quan trọng là phương pháp dạy học. Trong đó việc dạy đọc viết số là một trong những nhiệm vụ quan trọng và quyết định trong việc học toán của các em học sinh. Đối với tiểu học tư duy của các em đang dần dần chuyển từ trực quan sinh động sang tư duy trừu tượng; tư duy của các em chưa thực sự hình tượng các vấn đề phức tạp, do vậy việc đọc, viết số là một trong những vấn đề lại hiệu quả cao trong việc học toán cho các em.
     
        Có nhiều biện pháp giúp học sinh đọc viết đúng các số có nhiều chữ số  phù hợp với đặc điểm tư duy của học sinh bậc tiểu học, đem lại niềm vui và hứng thú trong học toán của học sinh.
 
     Chính vì vậy, mà trong chuyên đề này tôi chọn đề tài
   “ Rèn kỹ năng đọc, viết số có bốn chữ số cho học sinh lớp 3”
làm đề tài nghiên cứu của mình để trao đổi với các thầy cô giáo, cùng các đồng chí và các bạn.
II/Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc dạy đọc, viết số có bốn chữ số
 
          Bậc tiểu học tạo ra những cơ sở ban đầu rất cơ bản và bền vững cho trẻ em tiếp tục học lên bậc học trên; hình thành những cơ sở ban đầu, đường nét ban đầu của nhân cách. Những gì thuộc về tri thức và kỹ năng, về hành vi và tình người... được hình thành và định hình ở học sinh tiểu học sẽ theo suốt cuộc đời mỗi người (như chữ viết, như kĩ năng thực hiện các phép tính, như kĩ năng ứng xử trong cuộc sống thường ngày....) Trong đó kĩ năng học toán và giải toán là một nội dung quan trọng trong việc học tập và cuộc sống mỗi con người. Đồng thời Toán học là một môn công cụ để học các môn học khác, phục vụ trực tiếp cuộc sống của con người.
Việc lĩnh hội kiến thức, kỹ năng toán và đọc, viết số có bốn chữ số là yêu cầu cơ bản của học sinh học tập bộ môn Toán. Để giải quyết yêu cầu cơ bản trên. Học sinh không chỉ nghe đọc mẫu mà phải được tham gia hoạt động, thực hành, rèn luyện kỹ năng đọc, viết số có bốn chữ số. Do vậy trong việc dạy toán cho học sinh người giáo viên cần phải dạy cho học sinh phương pháp học toán, phương pháp thực hành rèn luyện kỹ năng đọc, viết số có bốn chữ số.
          Đọc, viết số là cơ sở giúp học sinh học môn toán. Do đó đòi hỏi học sinh phải được trang bị kiến thức về đọc, viết số một cách cơ bản, có hệ thống.
Hệ thống kiến thức đọc, viết số được sắp xếp xen kẽ với các mạch kiến thức cơ bản khác của môn Toán bậc tiểu học. Đọc, viết số ở bậc tiểu học, học sinh vừa thực hiện nhiệm vụ củng cố kiến thức toán học đã lĩnh hội, đồng thời vận dụng kiến thức ấy vào  đọc, viết, so sánh các số, thực hiện các phép tính.
          Dạy học toán ở tiểu học nhằm giúp học sinh biết cách vận dụng những kiến thức về toán vào các tình huống thực tiễn đa dạng, phong phú và những vấn đề thường gặp trong cuộc sống. Nhờ học toán học sinh có điều kiện rèn luyện và phát triển năng lực tư duy, rèn luyện phương pháp suy luận và những phẩm chất cần thiết của người lao động mới.  
III/ Khảo sát thực tiễn việc dạy đọc, viết số có bốn chữ số cho học sinh lớp 3 A trường tiểu học B Trực đại.
1/  Thực trạng:
Trong mọi hoạt động của nhà trường Ban giám hiệu và đội ngũ giáo viên luôn coi việc đổi mới phương pháp dạy học là nhiệm vụ trọng tâm. Coi trọng việc dạy cho học sinh có phương pháp học tập đúng, rèn kỹ năng thực hành ứng dụng trong cuộc sống. Nhà trường đã có nhiều điển hình trong hoạt động dạy và học. Có nhiều cô giáo đạt danh hiệu giáo viên giỏi cấp tỉnh, cấp huyện, nhiều học sinh đạt giải cao trong các kỳ thi học sinh giỏi các cấp.
Trong hoạt động dạy học, nhà trường luôn lấy học sinh làm trung tâm, áp dụng các phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh. Trong đó môn Toán là môn học được giáo viên và học sinh trong trường đầu tư thời gian và trí tuệ nhiều nhất. Trong các giờ học toán giáo viên và học sinh đã nghiên cứu và áp dụng nhiều phương pháp dạy toán khác nhau vào việc rèn kỹ năng đọc viết số có bốn chữ số.
 
2/ Kết quả khảo sát: (Riêng ở  khối lớp 3)
 
STT
 Lớp
Tổng số HS
HS biết đọc, viết số
có bốn chữ số.
Tỷ lệ HS
  đọc, viết số có bốn chữ số
 chưa đúng.
Tỷ lệ HS
đọc đúng, viết đúng số có bốn chữ số.
 
1
3A
30
3/30 = 11%
27/30 = 89%
2
3B
30
2/30 = 6,6%
28/ 30 = 93,4%
 
 
Như vậy, qua nghiên cứu thực trạng tôi thấy hầu hết các em học sinh lớp 3 trường tôi đã biết đọc, viết đúng số có bốn chữ số. Song vẫn còn một số em đọc, viết số có bốn chữ số chưa đúng. Chính vì vậy tôi đã chú ý đến việc rèn kỹ năng đọc, viết số có bốn chữ số cho học sinh lớp 3.
IV/ Các biện pháp rèn kỹ năng đọc, viết số có bốn chữ số cho học sinh lớp 3
        Để rèn kỹ năng đọc, viết số có bốn chữ số cho học sinh lớp 3, giáo viên phải xác định được mục tiêu về dạy đọc, viết số có bốn chữ số và chương trình sách giáo khoa toán 3, cụ thể như sau:
     1/ Mục tiêu:
  • Nhận biết các số có bốn chữ số.
  • Biết đọc, viết các số có bốn chữ số và nhận ra giá trị của các chữ số theo vị trí của mỗi chữ số ở từng hàng.
  • Biết mối quan hệ giữa đơn vị của hai hàng liền kề nhau.
  • Biết viết một số thành tổng các số theo các hàng và ngược lại.
  • Biết sử dụng cấu tạo thập phân của số và giá trị theo vị trí của các chữ số để so sánh các số có bốn chữ số.
  • Biết xác định số lớn nhất, số bé nhất trong một nhóm có không quá bốn số cho trước.
  • Biết sắp xếp các số có bốn chữ số theo thứ tự từ bé đến lớn hoặc ngược lại.
   2/ Chương trình sách giáo khoa toán 3:
          Môn toán lớp 3 gồm 175 tiết. Trong đó có 5 tiết dạy về đọc, viết số có bốn chữ số.
  • Các tiết lý thuyết gồm 3 tiết ( Tiết 91,  93,  94)
  • Các tiết thực hành gồm 2 tiết ( Tiết 92,  95 )
   3/ Các biện pháp rèn kỹ năng đọc, viết số có bốn chữ số cho học sinh lớp 3
      Khi dạy đọc, viết số có bốn chữ số ở lớp 3, giáo viên cần rèn cho học sinh các kỹ năng như:
        - Hình thành biểu tượng về số có bốn chữ số.
  - Xác định hàng tương ứng với từng chữ số trong số có bốn chữ số.
  - Rèn kỹ năng viết số có bốn chữ số  dựa vào cấu tạo thập phân của số và giá trị theo vị trí của các chữ số trong số đó.
 - Rèn kỹ năng đọc số có bốn chữ số.
Bước 1: Hình thành biểu tượng về số có bốn chữ số.
Để hình thành biểu tượng về số có bốn chữ số ta xét một số 1423, có thể tổ choc các hoạt động như sau:
  • Hình thành số 1423
   -Hoạt động 1.  Hướng dẫn học sinh lấy các tấm ô vuông như SGK đặt trên bàn:
+ Lấy lần thứ nhất: 10 tấm ô vuông, mỗi tấm có 100 ô vuông, xếp thành một hàng. Ta lấy được 1000 ô vuông.
+ Lấy lần thứ hai: 4 tấm ô vuông, mỗi tấm có 100 ô vuông, xếp thành một hàng. Ta lấy được 400 ô vuông.
+ Lấy lần thứ ba: 2 thanh ô vuông, mỗi thanh có 10 ô vuông, xếp thành một hàng. Ta lấy được 20 ô vuông.
+Lấy lần thứ tư: 3 ô vuông nhỏ. Ta lấy được 3 ô vuông.
 - Hoạt động 2.Yêu cầu học sinh đọc toàn bộ số ô vuông đã có trên bàn hoặc đã lấy ra, các em có thể đọc như sau:
+ Một nghìn bốn trăm hai mươi ba ô vuông.
+ Một nghìn, bốn trăm , hai choc,  ba đơn vị.
+ Một nghìn bốn trăm hai mươi ba.
Giáo viên yêu cầu học sinh nhắc lại số thẻ đã lấy được để biểu diễn cho số ô vuông trong mỗi hàng, sau mỗi lần học sinh nêu được thì viết số vào hàng tương ứng.
 Cụ thể là:
Hàng thứ nhất lấy được 1 thẻ 1000    ( 1000 ô vuông)      viết 1 vào hàng nghìn.
Hàng thứ hai lấy được 4 thẻ  100    ( 400 ô vuông)      viết 4 vào hàng trăm.
Hàng thứ ba lấy được 2 thẻ  10    ( 20 ô vuông)      viết 2 vào hàng trục.
Hàng thứ tư lấy được 3 thẻ    1      ( 1000 ô vuông)      viết 3 vào hàng đơn vị.
Ta có bảng sau:
Hàng
Nghìn
Trăm
Chục
Đơn vị
1
4
2
3
Từ kết quả ghi số ô vuông được lấy theo hàng như trên, giáo viên có thể hỏi: Số trên gồm mấy nghìn, mấy trăm, mấy choc, mấy đơn vị ?
Học sinh nêu: Số gồm 1 nghìn 4 trăm, 2 chục, 3 đơn vị.
- Hoạt động 4: Tổ chức cho h/s ghi số: 1423 ( Viết liền các số của hàng nghìn, hàng trăm, hàng chục, hàng đơn vị ta được số 1423).
-Hoạt động 5: Tổ chức cho h/s đọc số từ cách ghi trên.
+ Gọi h/s đọc số 1423 ( gợi ý cho h/s cách đọc tương tự như đọc số có ba chữ số).
+ H/S rút ra cách đọc: Một nghìn bốn trăm hai mươi ba.
  Sau  khi hình thành được được biểu tượng, cách viết, đọc số 1423, tiếp tục hình thành biểu tượng, cách viết, cách đọc một số nữa là số 4231 (Bốn nghìn hai trăm ba mươi mốt). Tiếp đó thông qua các bài tập thực hành có dạng dựa vào cấu tạo để viết số, đọc số.
HS dần dần hình thành được biểu tượng về các số có bốn chữ số, biết đọc, viết số có bốn chữ số. Để học sinh hình thành chắc chắn biểu tượng về các số có bốn chữ số, cần chia các số có bốn chữ số thành các dạng khác nhau:
    + Số có bốn chữ số mà cả bốn chữ số đều khác 0.
    + Số có bốn chữ số mà chữ số hàng trăm có giá trị là 0.
    + Số có bốn chữ số mà chữ số hàng chục có giá trị là 0.
    + Số có bốn chữ số mà chữ số hàng đơn vị có giá trị là 0.
Qua các bài dạy các dạng số có bốn chữ số HS có thể tự nhận  thấy rằng một số được gọi là số có bốn chữ số khi nó có đủ các chữ số ở tất cả các hàng: Hàng nghìn, hàng trăm, hàng chục, hàng đơn vị, trong đó chữ số hàng trăm, hàng chục, hàng đơn vị có thể bằng 0 nhưng chữ số hàng nghìn phải khác 0.
Bước 2: Dạy đọc, viết số có bốn chữ số.
Việc dạy đọc, viết số là hoạt động liền ngay sau khi hình thành biểu tượng số. Vì thế việc dạy đọc, viết các số vẫn dựa vào hình ảnh trực quan đó là các thẻ số đã được mô tả ở trên.
Như vậy có thể thấy học sinh có thể dựa vào kinh nghiệm đã tích luỹ được ở toán lớp 2 để học đọc, viết số tương ứngvới các hình ảnh trực quan. Mặt khác với việc sử dụng các hình ảnh trực quan- thẻ số có mức độ trừu tượng và khái quát cao hơn các hình ảnh trực quan học sinh có khả năng đọc, viết các số có nhiều chữ số. Căn cứ vào quy ước về giá trị biểu diễn của các thẻ số, khi thấy 1 thẻ số  1000   HS tự hình dung ra được là có 1000 ô vuông. Hoặc chỉ cần viết, chẳng hạn 7 ở cột hàng nghìn . HS tự hiểu được số 7 ở đây biểu thị cho 7 thẻ số dạng  1000   tức là có 7000 đơn vị,  Đây là sự tiếp tục củng cố về “ Giá trị theo vị trí( theo hàng) của chữ số” đã được chuẩn bị tong bước ở lớp 1 lớp 2.
  • Nội dung dạy học đọc, viết các số có bốn chữ số đều có cùng cấu trúc, cụ thể là:
+ Dạy học đọc, viết các số có tất cả các chữ số đều khác 0. Trong trường hợp này giáo viên rèn cho học sinh khi đọc đến chữ số hàng chục ta đọc thêm từ “mươi’’ rồi đọc đến chữ số hàng đơn Vi.
+ Dạy học đọc, viết các số có các chữ số ở hàng cao nhất khác 0 và các chữ số còn lại đều là 0 hoặc có ít nhất một chữ số là 0.
Trong trường chữ số 0 đứng ở hàng trăm đọc là không trăm,  chữ số 0 đứng ở hàng chục  đọc là linh,   chữ số 0 đứng ở hàng đơn vị  đọc là mươi. 
          + Trong quá trình dạy học đọc, viết các số đều có các bài luyện tập về đọc, viết một nhóm các số liên tiếp nhau. Dạng bài tập đọc, viết số này giúp làm rõ dần đặc điểm của dãy số tự nhiên( Nếu thêm 1 vào một số thì được số liền sau nó; Nếu bớt 1 ở một số thì được số liền trước nó) và cũng để củng cố kỹ năng đọc, viết các số một cách chắc chắn cho học sinh.
     Như vậy, khi dạy học đọc, viết các số nên căn cứ vào nội dung bài học để xác định có những hoạt động nào, trong đó học sinh tham gia mức nào, Sử dụng
đồ dùng trực quan gì để HS tự nêu được cách đọc, viết các số.
         *     Trong khi dạy học sinh đọc số có 4 chữ số tôi lưu ý cho học sinh cách đọc số có 4 chữ số ở một số trường hợp sau :
         - Trường hợp 1: Số có 4 chữ số mà có chữ số 1 đứng ở hàng đơn vị:
             +Nếu chữ số hàng chục là 0 hoặc 1thì chữ số 1 ở hàng đơn vị được đọc 
   là “Một”.
      Ví dụ:1301: Đọc là Một nghìn ba trăm linh một .
                1311: Đọc là Một nghìn ba trăm mười  một
                 +Nếu chữ số hàng chục lớn hơn 1 thì chữ số 1 ở hàng đơn vị đọc
       là “ Mốt ”.
       Ví dụ : 8721: Đọc là Tám nghìn bảy trăm hai mươi mốt.
         - Trường hợp 2: Chữ số 5 trong số có 4 chữ số.
                + Chữ số 5 đứng ở hàng đơn vị:
      Nếu chữ số  ở hàng chục là 0 thì đọc chữ số 5 ở hàng đơn vị là “ Năm”
  Ví dụ: 2005: Đọc là Hai nghìn không trăm linh năm.
      Nếu chữ số hàng chục khác 0 thì chữ số 5 ở hàng đơn vị đọc là “ Lăm”     
      Ví dụ:2415 :Đọc là Hai nghìn bốn trăm mười lăm.
                + Chữ số 5 đứng ở hàng nghìn, trăm, chục khi đọc ta đọc là  “ Năm”
      Ví dụ: 5555 Đọc là Năm nghìn năm trăm năm mươi lăm.
     *Trong khi dạy học sinh viết số có 4 chữ số tôi lưu ý cho học sinh cách viết  số có 4 chữ số ở một số trường hợp sau :
        + Trường hợp 1: Dựa vào cách đọc số để viết số:
  Hướng dẫn học sinh viết từ trái sang phải viết bắt đầu từ chữ số hàng cao nhất đến  hàng thấp nhất.
       Ví dụ: Năm nghìn chín trăm bốn mươi bảy. Viết là 5947
     + Trường hợp 2: Dựa vào cấu tạo số để viết số:
   Trường hợp này khó nên học sinh thường lúng túng. Vì vậy tôi lưu ý học sinh đọc kỹ đầu bài và chỉ ra được các hàng tương ứng với từng chữ số.
      Ví dụ: Viết số gồm : Tám nghìn, năm trăm, năm chục.
  Tám nghìn: Chữ số 8 ở hàng nghìn
  Năm trăm: Chữ số 5 ở hàng trăm
  Năm chục: Chữ số 5 ở hàng chục
  Hàng đơn vị không có thì ghi chữ số 0.
  Viết số gồm : Tám nghìn, năm trăm, năm chục: Viết là: 8550.
      *Trong khi dạy học sinh viết số có 4 chữ số tôi còn lưu ý cho học sinh  một số bài tập về viét một nhóm các số liên tiếp nhau.
  Dạng bài tập này cần cho học sinh nhận xét để tìm ra quy luật của dãy số
  Ví dụ : Bài 3 (trang 95) Viết số thích hợp vào chỗ chấm :
       a, 3000 ; 4000 ; 5000 ; ........; ........; .........
       b, 9000; 9100 ;9200 ; ..........; .........; ........
       c, 4420 ; 4430 ; 4440 ;..........;..........;.........
   Hướng dẫn học sinh tìm ra quy luật của dãy số:
    Dãy số phần a là dãy số tròn nghìn. Số viết tiếp vào dãy số này  là 6000; 7000; 8000
   Dãy số phần b là dãy số tròn trăm. Số viết tiếp vào dãy số này là 9300;9400 ;9500.
   Dãy số phần c là dãy số tròn chục. Số viết tiếp vào dãy số này là 4450 ; 4460; 4470
 
   V/ Kết quả và bài học kinh nghiệm:
  1. Kết quả :
           Sau một khoảng thời gian áp dụng các biện pháp trên vào thực tiễn giảng dạy môn toán lớp 3 tại  trường Tiểu học B Trực Đại tôi thấy tỷ lệ học sinh biết  đọc, viết số có bốn chữ số được nâng lên. Các giờ học toán đã được diễn ra nhẹ nhàng, gây được hứng thú nhiều hơn cho học sinh.
             Sau đây là số liệu khảo sát cụ thể :
STT
 Lớp
Tổng số HS
HS biết đọc, viết số có bốn chữ số.
Tỷ lệ HS
biết đọc, viết số có bốn chữ số
 
1
3A
30
30/30 = 100%
2
3B
30
28/ 30 = 93,4%
 
 
2.Bài học kinh nghiệm :
               Để rèn kỹ năng đọc, viết số có bốn chữ số cho học sinh, giáo viên cần rèn cho học sinh những kỹ năng sau
  - Nhận biết các số có bốn chữ số.
  • Biết đọc, viết các số có bốn chữ số và nhận ra giá trị của các chữ số theo vị trí của mỗi chữ số ở từng hàng.
  • Biết mối quan hệ giữa đơn vị của hai hàng liền kề nhau.
  • Biết xác định số lớn nhất, số bé nhất trong một nhóm có không quá bốn số cho trước.
  • Biết sắp xếp các số có bốn chữ số theo thứ tự từ bé đến lớn hoặc ngược lại.
       Cần rèn cho học sinh biết vận dụng linh hoạt sáng tạo các kiến thức đã học để đọc, viết số có bốn chữ số đạt hiệu quả cao.
 
         Trên  đây là một số biện pháp  rèn kỹ năng đọc, viết số có bốn chữ số đã được tôi áp dụng vào thực tế giảng dạy và đã có hiệu quả. Tôi rất mong được sự góp ý  của đồng nghiệp.
 
                                                               
               Tôi xin trân trọng cảm ơn !
                                                      
             Trực Đại ngày 10 tháng 11 năm 2008.
                                                                               Người viết
 
 
 
 
                   Vũ Thị  Thuỷ 
                                                               
                                                                         
                                           
 
    
 
 
 
 
 
Sáng kiến kinh nghiệm

Kinh nghiệm dạy nhân, chia số tự nhiên trong toán lớp 3

Kinh nghiệm dạy nhân, chia số tự nhiên trong toán lớp 3

Trọng tâm và hạt nhân của chương trình toán ở Tiểu học là nội dung Số học. Trong đó phép nhân, phép chia các số tự nhiên là nội dung cơ bản, quan trọng trong nội dung số học.

   Trường tiểu học Hạ Lý                  
 
 
Sáng kiến kinh nghiệm
 
 
“ Tìm hiểu nội dung và phương pháp dạy học phép nhân, phép chia các số tự nhiên theo sách giáo khoa Toán lớp 3”.
 
 
 
 
 
          Họ và tên: Trần Thị Lan Anh                
          GVCN: Lớp 3C
 
 
 
                                         NĂM HỌC 2010 - 2011
 
                    A. PHẦN MỞ ĐẦU
 
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
       1. Trọng tâm và hạt nhân của chương trình toán ở Tiểu học là nội dung Số học. Trong đó phép nhân, phép chia các số tự nhiên là nội dung cơ bản, quan trọng trong nội dung số học. Bởi vì, nhiệm vụ trọng yếu của môn toán Tiểu học là hình thành cho học sinh kĩ năng tính toán – một kĩ năng rất cần thiết trong cuộc sống, lao động và học tập của học sinh. Vì vậy giáo viên cần tìm hiểu, nghiên cứu để dạy tốt cho học sinh bộ môn này.
       2. Để dạy tốt nội dung phép nhân, phép chia các số tự nhiên: trước hết giáo viên cần nắm được bản chất Toán học của những kiến thức này. Cụ thể, giáo viên Tiểu học phải: Hiểu đúng đắn các khái niệm, định nghĩa Toán học; có khả năng chứng minh các quy tắc, công thức, tính chất Toán học được dạy ở Tiểu học dựa trªn To¸n học hiện đại; có khả năng giải bài tập toán ở Tiểu học tốt ( thể hiện ở khả năng phân tích tìm tòi lời giải, khả năng trình bày bài một cách logic, chặt chẽ và có khả năng khai thác bài toán sau khi giải)…
               Vì vậy, cần giúp giáo viên nắm được cấu trúc nội dung của phép nhân, phép chia các số tự nhiên trong chương trình Toán tiểu học, nội dung và cách thể hiện nội dung phép nhân, phép chia các số tự nhiên. Bên cạnh đó giáo viên cũng nắm được phương pháp dạy học các nội dung này theo hướng đổi mới về phương pháp dạy học Toán. Điều này giúp cho việc dạy học phép nhân, phép chia các số tự nhiên đạt chất lượng cao hơn.
       4. Vì những lý do trên, đồng thời để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm cho bản thân mình, tôi đã chọn đề tài:
       “ Tìm hiểu nội dung và phương pháp dạy học phép nhân, phép chia các số tự nhiên theo sách giáo khoa Toán lớp 3”.
 
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
       Tìm hiểu nội dung và phương pháp dạy học phép nhân, phép chia các số tự nhiên theo sách giáo khoa Toán lớp 3.
 
 
 
                         A. NỘI DUNG
 
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẪN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
Để giúp giáo viên Tiểu học hiểu rõ hơn cơ sở của việc lựa chọn và sắp sếp các nội dung về phép nhân, phép chia các số tự nhiên, đồng thời giúp giáo viên biết được định hướng của việc lựa chọn và tận dụng các phương pháp dạy học đối với các nội dung phép nhân, phép chia các số tự nhiên tôi xin trình bày tóm tắt các vẫn đề sau:
  • Đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học
  • Một số vấn đề về phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học
  1. Đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học:
1. Tri giác:
       - Tri giác mang tính đại thể, ít đi sâu vào chi tiết và tri giác mang tính không chủ định.
       - Khi tri giác, sự phân tích một cách có tổ chức và sâu sắc ở học sinh lớp đầu còn yếu.
       - Ở đầu cấp, tri giác của trẻ thường gắn  với hành động, hoạt động thực tiễn của trẻ.
       2. Chú ý:
       Chú ý có chủ định còn yếu, chú ý không chủ định phát triển. Những gì mang tính mới mẻ, rực rỡ, bất ngờ, khác thường dễ dàng lôi cuốn sự chú ý của học sinh.
3. Trí nhớ:
       - Trí nhớ trực quan – hình tượng phát triển hơn trí nhớ từ ngữ - lôgic.
       - Ghi nhớ máy móc chiếm ưu thế
       - Học sinh không xác định được mục đích ghi nhớ, không biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa.
       - Những thông tin mà học sinh được tiếp xúc từ nhiều giác quan sẽ giúp các em ghi nhớ nhanh hơn và nhớ lâu hơn.
4. Tư duy:
       - Tư duy cụ thể mang tính chất hình thức, dựa vào đặc điểm của đồ dùng trực quan
       - Học sinh thường dự vào những đặc điểm bề ngoài của sự vật, hiện tượng để khái quát hoá.
       - Hoạt động phân tích – tổng hợp còn sơ đẳng, chủ yếu được tiến hành khi tri giác trực tiếp các đối tượng trực quan.
* Kết luận
       Từ những đặc điểm trên của học sinh Tiểu học về quá trình nhận thức, khi dạy học Tiểu học nói chung và dạy học Toán nói riêng, giáo viên cần:
       - Quan tâm đến việc sử dụng đồ dùng trực quan khi dạy hình thành kiến thức cho trẻ. Vì hình dạng, kiểu cách, màu sắc… của đồ dùng trực quan dễ gây sự chú ý cho trẻ, giúp trẻ tri giác tốt, dễ nhớ và nhớ lâu.
       Tuy nhiên những đặc điểm trên của học sinh tiểu học cũng lưu ý giáo viên không nên quá lạm dụng đồ dùng trực quan. Vì hình ảnh, màu sắc loà loẹt của nó dễ lôi cuốn học sinh làm các em quên nhiệm vụ học tập của mình. Hơn nữa, sử dụng trực quan quá nhiều sẽ không phát triển được trí tưởng tượng, khả năng liên tưởng khái quát của học sinh.
       - Giáo viên phải tạo cho học sinh tâm thế để ghi nhớ, hướng dẫn thủ thuật ghi nhớ, chỉ ra những điểm quan trọng, có ý nghĩa để học sinh ghi nhớ.
       - Việc trẻ ghi nhớ máy móc tốt là điều kiện để giáo viên dạy học sinh học thuộc các b¶ng nhân, chia. Đây là cơ sở để giáo viên tổ chức cho học sinh học thuộc các bảng tính bằng cách đọc nhiều lần.
 
 
II. Một số vấn đề về phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học
1. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học môn toán ở Tiểu học
       “ Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vàp thựuc tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.”
2. Yêu cầu cơ bản của đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học là:
       “ Dạy học dựa trên cơ sở tổ chức các hoạt động học tập của học sinh. Thông qua hoạt động học tập này, học sinh được phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập, tự trải nghiệm khám phá, phát hiện vấn đề và tự chiếm lĩnh kiến thức.”
3. Thực hiện định hướng trên trong việc dạy bài mới và dạy thực hành luyện tập, giáo viên cần:
Trong dạy bài mới: Giúp học sinh:
       - Tự phát hiện và giải quyết các vấn đề của bài học.
       - Tự chiếm lĩnh tri thức mới
       - Hướng dẫn học sinh cách thức phát hiện, chiếm lĩnh tri thức.
       - Thiết lập được mối quan hệ giữa kiến thức mới và kiến thức đã học.
       - Thực hành, rèn luyện cách diễn đạt thông tin bằng lời, bằng ký hiệu.
Trong dạy bài thực hành luyện tập: Giáo viên cần tổ chức và động viên mọi học sinh tham gia vào hoạt động thực hành luyện tập.
       - Giúp học sinh nhận ra kiến thức mới học và quy trình vËn dụng các kiến thức đó trong các dạng bài tập khác nhau.
       - Giúp học sinh thực hành, luyện tập theo khả năng của mình. Chấp nhận thực tế: có những học sinh làm ít hơn hay nhiều hơn số lượng bài tập đưa ra.
Tóm lại, cần thông qua các hoạt động thực hành, luyện tập làm cho các em thấy học không chỉ để biết, để thuộc mà còn để làm, để vận dụng.
4. Giới thiệu một số phương pháp dạy học thường được sử dụng trong dạy học Toán ở Tiểu học:
       Căn cứ vào đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học, đặc điểm các kiến thức Toán học và phương pháp nhận thức Toán học, các phương pháp dạy học thường được sử dụng trong dạy học Toán ở Tiểu học gồm: phương pháp trực quan, phương pháp thực hành – luyện tập, phương pháp gợi mở – vấn đáp, phương pháp giảng giải – minh hoạ.
       Bên c¹nh đó, để thực hiện định hướng đổi mới phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học, hiện nay người ta chú trọng sử dụng các phương pháp dạy học theo phương hướng phát huy tích cực, chủ động, sáng tạo của người học
 
 
CHƯƠNG II: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC PHÉP NHÂN, PHÉP CHIA CÁC SỐ TỰ NHIÊN TRONG SÁCH GIÁO KHOA TOÁN LỚP 3
I. Mục tiêu dạy học phép nhân, phép chia các số tự nhiên ở lớp 3
Giúp học sinh:
       - Học thuộc các bảng tính nhân 6, 7, 8, 9; bảng chia 6, 7, 8, 9.
       - Hoàn thiện bảng nhân, bảng chia.
       - Biết tính nhẩm trong phạm vi các bảng tính hoặc trong các trường hợp đơn giản, thường gặp về nhân, chia.
       - Biết thực hiện phép nhân số có 2, 3, 4, 5 chứ số có 1 chữ số; phép chia số có 2, 3, 4, 5 chữ số cho số có 1 chữ số (chia hết hoặc chia có dư)
       - Biết tính giá trị các biểu thức số có đến hai dấu phép tính (hoặc không có dấu ngoặc).
       - Biết tìm một thành phần chưa biết trong phép tính.
* Thông qua việc dạy học phép nhân, phép chia ở lớp 3 giúp học sinh:
       - Phát triển khả năng tư duy: so sánh, lựa chọn, phân tích, tổng hợp, trõu tượng hoá, khái quát hoá.
       - Diễn đạt ngắn gọn, rõ ràng thông tin.
       - Tập phát hiện, tìm tòi, chiếm lĩnh kiến thức mới.
       II. Nội dung dạy học phép nhân, phép chia các số tự nhiên trong chương trình toán lớp 3
Phép tính
Biểu thức
Bài tập
- Củng cố các bảng nhân với 2, 3, 4, 5
- Lập các bảng nhân với 6, 7, 8, 9 và các bảng chia cho 6, 7, 8, 9
- Hoàn thiện các bảng nhân và các bảng chia.
- Nhân, chia ngoài bảng:
+ Nhân số có 2, 3, 4, 5 chữ số với số có 1 chữ số .
+ Chia số có 2, 3, 4, 5 chữ số cho số có 1 chữ số ( chia hết và chia có dư)
-  Thực hành tính nhẩm, chủ yếu trong phạm vi các bảng tính: nhân số tròn nghìn với số có 1 chữ số (không nhớ); chia số tròn nghìn, tròn chục nghìn cho số có 1 chữ số và chia hết.
- Tính giá trị của các biểu thức số có hai dấu phép tính, có hoặc không có dấu ngoặc
- Giải các bài tập dạng
“ Tìm x, biết a : x = b (với a, b là các số trong phạm vi đã học)
 
       Như vậy: Các biện pháp nhân, chia ngoài bảng được xây dựng trên cơ sở những kiến thức và kỹ năng về: cấu tạo thập phân của số; tính chất phân phối của phép nhân và chia đối với phép céng; các bảng nhân, chia; quan hệ giữa nhân và chia.
       Yêu cầu cơ bản để dạy các biện phép nhân, phép chia ngoài bảng và chủ yếu là nắm được thuật tính và thực hành tính thông thạo. Vì vậy phương pháp chung được sử dụng là giáo viên hướng dẫn và thực hiện trực tiếp trên ví dụ cụ thể. Từ đó khái quát thành các bước thực hiện.
 
III. Một số lưu ý về phương pháp dạy học các nội dung về phép nhân, phép chia các  số tự nhiên ở lớp 3
       Qua việc tìm hiểu nội dung , phương pháp dạy học các nội dung về phép nhân, phép chia các số tự nhiên ở lớp 3, tôi thấy: Để dạy tốt các nội dung này, giáo viên cần lưu ý những điều sau:
1. Về việc dạy giai đoạn chuẩn bị:
       Trước khi học phép tính mới (phép nhân, phép chia) học sinh đều có giai đoạn chuẩn bị. Đây là cơ sở cho việc hình thành kiến thức mới, cầu nối giữa kiến thức đã học và kiến thức sẽ học. Vì vậy, khi dạy học các bài học trong giai đoạn này, giáo viên cần chuẩn bị tốt kiến thức cho học sinh để làm cơ sở vững chắc cho các em học những kiến thức mới tiếp theo. Cụ thể là:
       - Học sinh được học bài “Tổng của nhiều số” trước khi học bài “Phép nhân”. ở đây học sinh được tính tổng các số hạng bằng nhau. Giáo viên phải lưu ý để nhận ra các tổng này đều có các số hạng bằng nhau để giúp học sinh học bài phép nhân, tính kết quả của các phép nhân trong các bẳng nhân (nhất là các bảng nhân đầu tiên).
       - Học sinh được học bài “Phép nhân” và các bài về Bảng nhân trước khi học bài “Phép chia” và các bài về Bảng chia. Giáo viên lưu ý học sinh phải thuộc bảng nhân để làm cơ sở học các bảng chia, vì các bảng chia đều được xây dựng từ các bảng nhân tương ứng.
       - Việc nhân chia trong bảng thành thạo cũng là cơ sở để học sinh học tốt nhân, chia ngoài bảng.
 
2. Về việc sử dụng đồ dùng trực quan trong từng giai đoạn lập bảng nhân, bảng chia:
        Kĩ thuật chung của nhân, chia trong bảng là: Học sinh thao tác trên các tấm bìa có các chấm tròn. Vì vậy, sử dụng đồ dùng trực quan ở đây là rất quan trọng. Tuy nhiên mức độ trực quan không giống nhau ở mỗi giai đoạn:
       - Ở lớp 3 (học kỳ I): học sinh tiếp tục học các bảng nhân, bảng chia 6, 7, 8, 9. Lúc này các em đã có kinh nghiệm sử dụng đồ dùng học tập (các miếng bìa với số chấm tròn như nhau), đã quen và thành thạo với cách xây dựng phép nhân từ những miếng bìa đó. Hơn nữa, lên lớp 3 trình độ nhận thức của học sinh phát triển hơn trước nên khi hướng dẫn học sinh lập các bảng nhân hoặc bảng chia, giáo viên vẫn yêu cầu học sinh sử dụng các đồ dùng học tập nhưng ở một mức độ nhất định, phải tăng dần mức độ khái quát để kích thích trí tưởng tượng, phát triển tư duy cho học sinh. Chẳng hạn:
       Giáo viên không cùng học sinh lập các phép tính như ở lớp 2 mà chỉ nêu lệnh để học sinh thao tác trên tấm bìa với các chấm tròn để lập 3, 4 phép tính trong bảng, các phép tính còn lại học sinh phải tự lập dựa vào phép đếm thêm hoặc dựa vào các bảng nhân đã học.
       VD: Khi hướng dẫn học sinh tự lập Bảng nhân 6, giáo viên yêu cầu học sinh sử dụng các tấm bìa, mỗi tấm bìa có 6 chấm tròn để lập các phép tính:
                                  6 x 1 =  6
                                  6 x 2 = 12
                                  6 x 3 = 18
Sau đó cho học sinh nhận xét để từ 6 x 2 = 12 suy ra được 6 x 3 = 18. Cụ thể là: Với 3 tấm bìa
Học sinh nêu : “6 được lấy 3 lần, ta có 6 x 3”
Mặt khác cũng từ 3 tấm bìa này ta thấy 6 x 3 chính là 6 x 2 + 6
Vậy 6 x 3 = 6 x 2 + 6 = 18
Bằng cách như vậy, học sinh có thể không dùng tấm bìa mà vẫn tự tìm được kết quả của phép tính:
                        6 x 4 = 6 x 3 + 6 = 24
                        6 x 5 = 6 x 4 + 6 …
Hoặc dựa trên bảng nhân đã học:
                        6 x 4 = 4 x 6 = 24
                        6 x 5 = 5 x 6 …
       Như vậy, giáo viên cần lưu ý sử dụng đồ dùng trực quan hợp lý, đúng mức để không chỉ giúp học sinh nắm được kiến thức mà còn phát triển tư duy.
3. Về phương pháp nhân, chia ngoài bảng:
 Với nội dung về phép nhân, phép chia các số tự nhiên ở lớp 3, để hình thành kiến thức mới cho học sinh thì phương pháp chủ yếu là trực quan kết hợp làm mẫu; để rèn kỹ năng thì phương pháp chủ yếu là thực hành – luyện tập. Tuy nhiên, trong quá trình học sinh thực hành luyện tập, giáo viên phải tăng dần mức độ, yêu cầu, độ khó của bài tập; tạo điều kiện cho học sinh tự huy động kiến thức sẵn có để làm bài; đồng thời rèn cho học sinh khả năng tự kiểm tra, đánh giá mình và đánh giá lẫn nhau.
       Như vậy, khi sử dụng phương pháp dạy học phép nhân, phép chia số tự nhiên ở lớp 3 người ta đã quan tâm đến đặc điểm nhận thức của học sinh và đã có sử dụng các phương pháp dạy học kích thích tư duy trừu tượng, khả năng so sánh, khái quát hoá, tổng hợp hoá … cho học sinh.
 
CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG DẠY HỌC PHÉP NHÂN, PHÉP CHIA CÁC SỐ TỰ NHIÊN Ở LỚP 3
       Qua thực tế tìm hiểu tình hình dạy học phép nhân, phép chia cho học sinh lớp 3 ở trường Tiểu học tôi rút ra một số nhận xét sau:
I. Vấn đề giảng dạy của giáo viên
       Quan điểm của giáo viên về cấu trúc nội dung chương trình để rèn luyện kĩ năng thực hiện phép nhân, chia các số tự nhiên cho học sinh là rất phù hợp. Các bài học về phép nhân, phép chia được sắp xếp liền mạch, bài nọ là cơ sở cho bài kia, phù hợp cho cả giáo viên và học sinh trong quá trình luyện tập.
       - Nội dung rèn luyện kỹ năng thực hiện tính nhẩm phép nhân, chia trong bảng là rất quan trọng vì nó không chỉ giúp củng cố kiến thức mới mà còn rất thuận lợi cho quá trình dạy nhân, chia ngoài bảng. Thiếu kỹ năng nhân nhẩm tốt thì học sinh sẽ rất khó khăn trong việc học phép chia đặc biệt là chia ngoài bảng (chia viết).
1. Ưu điểm:
       a) Giáo viên  sử dụng phương pháp trực quan, giảng giải – minh hoạ, gợi mở – vấn đáp khi hình thành khái niệm phép tính; khi thành lập các bảng  tính; hướng dẫn học sinh làm bài tập để định hướng cho học sinh làm bài.
       b) Giáo viên thường xuyên sử dụng phương pháp Thực hành luyện tập trong quá trình rèn luyện kỹ năng thực hiện phép nhân, phép chia các số tự nhiên cho học sinh. Điều này rất thuận lợi cho cả giáo viên và học sinh: giáo viên không phải giảng nhiều, còn học sinh có điều kiện tự rèn luyện kỹ năng cho mình.
       c) Giáo viên bám sát và theo dõi từng bước thực hiện tính của học sinh, có biện pháp sửa sai kịp thời.
2. Nhược điểm:
       Bên cạnh những ưu điểm kể trên, khi dạy học để rèn luyện kỹ năng nhân, chia cho học sinh lớp 3 còn một số tồn tại như sau:
 Việc dạy học theo định hướng đổi mới chưa được nhiều giáo viên chú trọng:
       - Trong quá trình hình thành các phép toán nhân, chia ngay sau khi giảng giải và hỏi - đáp, giáo viên thường rút ra công thức phép toán nhưng ít chú ý đến việc cho học sinh nhắc lại hoặc tự rút ra kiến thức mới:
VD: Trong những bài về nhân, chia ngoài bảng, sau khi đã cho học sinh thấy:
 
x

                       1427                                         2407      4

 
                             3                                            00      601
                       4281                                             07
                                                                              3
       - Nhiều giáo viên cho học sinh luyện tập với không khí buồn tẻ, do đó có nhiều dạng bài tập lặp lại mà giáo viên không đổi mới các hình thức chữa bài chủ yếu chữa bài một cách đơn điệu.
       - Nội dung phép nhân, phép chia số tự nhiên trong Toán 3 là nội dung mới. Để khắc sâu kiến thức, rèn luyện kỹ năng tính toán cho học sinh, sách giáo khoa đưa ra những dạng bài tập tương tự nhau, đặc biệt là trong các bài học về nhân, chia trong bảng. Chẳng hạn: các bài học về bảng nhân thường có 3 dạng bài tập:
               + Tính nhẩm (các phép nhân trong bảng)
               + Toán có văn (giải bằng một phép tính nhân)
               + Đếm thêm
II. Một số thuận lợi và khó khăn, sai lầm học sinh thường gặp khi học phép nhân, phép chia các số tự nhiên ở lớp 3.
1. Thuận lợi:
       a) Do các bài học và bài tập về phép nhân, phép chia các số tự nhiên ở lớp 3 được trình bày một cách khoa học, chính xác; cấu trúc các bài tương đối giống nhau nên nếu nghỉ học, nhờ vào việc đọc bài và làm bài tập, học sinh có thể tự rèn luyện kỹ năng tính cho mình.
       b) Hết lớp 3 học sinh đã có những kiến, kỹ năng cơ bản nhất về phép nhân, phép chia; tự mình có thể đặt tính và tính (nhân, chia) số có đến 5 với số có 1 chữ số.
       c) Học sinh biết vận dụng kỹ năng nhân, chia vào làm toán: tìm thành phần chưa biết, tìm giá trị biểu thức, giải toán có văn…
       d) Học sinh có kỹ năng tính nhanh, tính nhẩm các số tròn chục với số có một chữ số.
2. Khó khăn, sai lầm:
Khi thực hiện các phép tính nhân, chia ở lớp 3 học sinh thường gặp một số khó khăn, sai lầm sau:
       a) Khi nhân số có nhiều chữ số với số có một chữ số có nhớ 2, 3 … liên tiếp, học sinh thường chỉ nhớ lần đầu tiên mà quên không nhớ các lần tiếp theo.
VD:
 
x

                                                  1719

 
                                                        4
                                                  4876
b) Trong phép nhân có nhớ nhiều hơn 1 (nhớ 2, nhớ 3 …) học sinh thường chỉ nhớ 1.
VD:
 
x

                                           2913

 
                                                 4
                                           9652
=> Khắc phục: Đối với 2 lỗi trên, giáo viên cần khắc phục cho học sinh bằng cách: yêu cầu các em nhẩm thầm trong khi tính (vừa tính, vừa nhẩm) như phép tính mẫu trong sách giáo khoa và viết số cần nhớ ra lề phép tính.
       c) Lúc đầu khi mới học nhân số có nhiều chữ số với số có một chữ số, học sinh còn hay sai trong cách ghi kết quả.
VD:
 
x

                                             26

 
                                               3
                                           618
=> Khắc phục: Ở đây, ta cần giải thích cho học sinh rằng: Nếu làm như vậy thì tích có tới 62 chục, nhưng thực ra chỉ có 7 chục mà thôi. Vì:
- Ở lượt nhân thứ nhất: 3 nhân 6 đơn vị được 18 đơn vị, tức là 1 chục và 8 đơn vị, viết 8 ở cột đơn vị, còn 1 chục nhớ lại (- ghi bên lề phép tính) để thêm vào kết quả lượt nhân thứ hai – nhân hàng chục.
- Ở lượt nhân thứ hai: 3 nhân 2 chục được 6 chục, thêm một chục đã nhớ là 7 chục, viết 7 ở cột chục.
       Giáo viên cũng có thể một lần nữa khẳng định tính đúng đắn của phép tính bằng cách: Phân tích từ số 26 = 2 chục + 6 đơn vị và hướng dẫn học sinh nhân bình thường theo hàng ngang rồi cộng các kết quả lại.
2. Học phép chia
       a) Học sinh thường ước lượng thương sai trong phép chia có dư nên dẫn đến tìm được số dư lớn hơn số chia và lại thực hiện chia số dư đó cho số chia. Cuối cùng, tìm được thương lớn hơn số chia.
VD:
                                          
                                            89      2
                                           8        431
                                           09
                                             6
                                             3
                                             2
                                             1
Nguyên nhân của lỗi sai này là:
- Do học sinh chưa nắm được quy tắc “số dư bao giờ cũng nhỏ hơn số chia
- Học sinh không thuộc bảng nhân, bảng chia, kỹ năng trừ nhẩm để tìm số dư còn chưa tốt.
=> Để khắc phục sai lầm này:
- Khi dạy học sinh cách ước lượng thương trong phép chia, cần lưu ý cho học sinh quy tắc trong phép chia có dư: “số dư bao giờ cũng nhỏ hơn số chia
- Khi dạy về nhân, chia trong bảng, giáo viên cần yêu cầu học sinh phải học thật thuộc các bảng nhân, bảng chia trước khi dạy chia viết.
- Dạy cho học sinh làm tính chia phải được tiến hành từ dễ đến khó, theo từng bước một.
       b) Một sai lầm nữa thường thấy ở học sinh khi học chia viết là: Các em thường quên chữ số “0” trong phép chia có chữ số “0” ở thương.
=> Nguyên nhân và cách khắc phục:
       Do học sinh không nắm được quy tắc thực hiện chia viết “có bao nhiêu lần chia thì có bấy nhiêu chữ số được viết ở thương”. Giáo viên cũng cần lưu ý học sinh: Chỉ duy nhất trong lần chia đầu tiên là được lấy nhiều hơn một chữ số ở số bị chia để chia, còn các lần chia tiếp theo lấy từng chữ số để chia và khi lấy một chữ số để chia thì phải viết được một chữ số ở thương.
       Bên cạnh đó, giáo viên cũng lưu ý học sinh nên viết đủ phép trừ ơt các lượt chia như sau
 
VD:
                                             816      4
                                             016      24
                                                 0
Hướng dẫn học sinh cách nhân khi thực hiện phép chia có dư trong mỗi lượt chia như sau:
VD: 43 : 5 = ?
Cách 1: Đếm ngược từ 43 cho đến khi gặp một tích (hoặc số bị chia) trong bảng nhân 5 (chia 5) : 43; 42; 41; 40.
40 : 5 = 8
Vậy 43 : 5 = 8 (dư 3)
Cách 2: Tìm số lớn nhất (không vượt quá 43) trong các tích (số bị chia) của bảng nhân (chia 5) ta được 40; 40: 5 = 8. Vậy 43 : 5 = 8 (dư 3)
       Nhìn chung, khi học nội dung về phép nhân, phép chia các số tự nhiên ở lớp 3, hầu hết học sinh đều nắm được kiến thức có kỹ năng nhân, chia. Những sai lầm trên đầy chỉ xảy ra với số ít học sinh ở giai đoạn đầu học về nội dung này. Giáo viên cần lưu ý để có biện pháp giúp đỡ học sinh kịp thời.
 
                                              KẾT LUẬN
 
Qua nghiên cứu đề tài này tôi thấy: Nếu giáo viên Tiểu học nắm vững bản chất toán học của các mạch kiến thức nói chung, của Số học nói riêng; nắm được sự thể hiện các nội dung kiến thức đó trong sách giáo khoa thì chắc chắn việc dạy học sẽ tốt hơn. Vì vậy có hiểu đúng, chính xác kiến thức thì giáo viên mới truyền thụ cho học sinh kiến thức đúng được.
Hơn nữa, bằng việc tìm hiểu cách sắp xếp nội dung dạy học trong s¸ch giáo khoa, giáo viên sẽ thấy được mối liên hệ giữ các bài học. Từ đó chú ý huy động kiến thức học sinh đã có để học bài mới, đồng thời trang bị cho học sinh những lượng kiến thức cần thiết để làm cơ sỏ học các bài tiếp theo.
Việc nắm được đặc điểm nhận thức của học sinh, các phương pháp dạy học phép nhân, phép chia các số tự nhiên; định hướng đổi mới phương pháp dạy học sẽ giúp giáo viên lựa chọn và vận dụng phương pháp dạy học đúng, hiệu quả và phát huy được tính tích cực trong học tập của học sinh.
 
 
 
 
Sáng kiến kinh nghiệm

Phát triển khả năng thưởng thức Mĩ thuật cho học sinh

Phát triển khả năng thưởng thức Mĩ thuật cho học sinh

Cảm thụ cái đẹp để sống đẹp là mục tiêu của giáo dục, lấy những cái đẹp để giáo dục con người, như vậy “Cái đẹp là cái đức”

MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP PHÁT TRIỂN
KỸ NĂNG THƯỜNG THỨC MĨ THUẬT CHO HỌC SINH
NĂM  HỌC  2009 – 2010
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
HỌ VÀ TÊN: LÊ HỒNG ĐỨC
ĐƠN VỊ: TRƯỜNG TIỂU HỌC HỮU THỔ
XÃ:                 ĐỘI BÌNH
HUYỆN:        YÊN SƠN
TỈNH:             TUYÊN QUANG
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP PHÁT TRIỂN
KHẢ NĂNG THƯỜNG THỨC MĨ THUẬT CHO HỌC SINH
 
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI VÀ ĐẶT VẤN ĐỀ:
          1. Cơ sở lý luận:
Con người sống giữa thiên nhiên “đầy ắp” ngôn ngữ tạo hình, đường nét, hình khối,màu sắc của cỏ cây, hoa lá, mây trời, muôn thú tất cả đều lung linh, đẹp đẽ.Chúng không chỉ cho ta vật chất để sống mà từ cái đẹp đó đã đem lại cho con người những xúc cảm, tình cảm yêu đời, yêu người.
          Cuộc sống ngày càng phát triển thì nhu cầu thưởng thức cái đẹp sẽ không ngừng được nâng cao, cái đẹp đã thực sự trở thành một động lực phát triển của xã hội, góp phần tăng trưởng nền kinh tế quốc dân. Cảm thụ cái đẹp để sống đẹp là mục tiêu của giáo dục, lấy những cái đẹp để giáo dục con người, như vậy “Cái đẹp là cái đức”
Với nhiều lợi thế, môn mĩ thuật sẽ tạo điều kiện cho học sinh học có hiệu quả hơn các môn học khác, thể hiện ở khả năng quan sát, nhận xét, cách suy nghĩ, tìm tòi, sáng tạo, tư duy hình tượng và phương pháp làm việc khoa học sẽ góp phần hình thành phẩm chất của con người lao động trong thời kì CNH,HĐH đất nước.
          Khi đứng trước một công trình kiến trúc cổ hay một tác phẩm hội hoạ đẹp chúng ta không thể không thắc mắc tác phẩm nghệ thuật này có ý nghĩa gì, được xây dựng từ thời nào, ai đã sáng tạo nó,…nhất là đối với học sinh, những câu hỏi đó luôn xuất hiện trong đầu các em chính vì vậy tôi thấy rằng phân môn thường thức mĩ thuật là một phân môn hay nhằm trang bị, cung cấp cho các em một số hiểu biết về nghệ thuật tạo hình thông qua một số kiến thức sơ lược lịch sử mĩ thuật Việt Nam và thế giới.Qua đó góp phần hình thành ở học sinh khả năng cảm thụ cái đẹp trong nghệ thuật tạo hình được thể hiện qua đường nét, hình mảng, hình khối, đậm nhạt, không gian ánh sáng, màu sắc, bố cục. Các em được làm quen với một số tác giả tác phẩm nổi tiếng từ đó thấy được giá trị nghệ thuật trong các tác phẩm và khả năng sáng tạo của tác giả.
          Bên cạnh hiểu biết về tạo hình truyền thống học sinh còn được mở rộng tầm nhìn ra thế giới, các em được làm quen với các tác phẩm kiệt tác của các danh hoạ thế giới qua các thời kì lịch sử. Đối với học sinh khối 4,5 các em đã được làm quen với phân môn này từ lớp 2,3 nên phần nào cũng dễ dàng tiếp thu hơn,  các em có thể tìm hiểu, sưu tầm tư liệu trên  sách báo, tạp chí và internet để phục vụ cho việc học tập. Từ đó, các em càng nhận thức rõ hơn tầm quan trọng của thường thức mĩ thuật đối với cuộc sống và phục vụ các phân môn khác. Các em sẽ thấy quý trọng các giá trị truyền thống của dân tộc. Để làm được điều này đòi hỏi giáo viên phải có phương pháp dạy học và phối hợp với học sinh một cách nhịp nhàng trong khi lên lớp nhằm giúp học sinh từng bước nâng cao nhận thức làm cho tâm hồn các em trở nên phong phú, phát triển toàn diện nhân cách. Từ đó, bản thân tôi đã chọn nghiên cứu đề tài này.
   2. Cơ sở thực tiễn:
Qua quan sát và điều tra cơ bản ở các trường thuộc địa bàn huyện Yên Sơn, cụ thể là ở trường Tiểu học Hữu Thổ , cho thấy:
a.Về phía nhà trường:
- Trang thiết bị, đồ dùng dạy học môn mĩ thuật nói chung và phân môn thường thức mĩ thuật nói riêng còn thiếu nhiều, đa phần đều in lại từ SGK, tranh ảnh mĩ thuật dù có nhưng hạn chế, tranh ảnh hoạ sĩ Việt Nam và mĩ thuật hiện đại Phương Tây hầu như không có để các em quan sát. NhÊt lµ nh÷ng bµi t×m hiÓu vÒ t­îng
- Các tài liệu liên quan đến mĩ thuật ViÖt Nam cũng như mĩ thuật thế giới ở thư viện không có vì vậy phần nào hạn chế những hiểu biết của các em.
- Máy vi tính ở nhiều trường kết nối internet nh­ng häc sinh ch­a cã ®iÒu kiÖn t×m hiÓu trªn m¹ng do đó những thông tin bên ngoài các em vẫn chưa cập nhật đuợc
              b. Về phía học sinh:
  Qua khảo sát tôi thấy:
- Đa số học sinh có đầy đủ SGK, dụng cụ học tập như giấy, bút chì, màu vẽ…
- 99% học sinh thích học môn mĩ thuật, 1% không thích học do không có năng khiếu.
- Häc sinh vïng n«ng th«n hÇu hÕt Ýt ®­îc tiÕp xóc víi NghÖ thuËt nãi chung vµ MÜ thuËt nãi riªng nªn cßn h¹n chÕ nhÊt lµ mÆt th­êng thøc MÜ thuËt. Đặc biệt kiến thức để các em tìm hiểu cái đẹp, cái hay trong phân môn thường thức mĩ thuật lại chủ yếu dựa vào nguồn tư liệu duy nhất đó là SGK và vở tập vẽ.
II.SỐ LIỆU VÀ THỰC TRẠNG BAN ĐẦU:
          - Trong chương trình mĩ thuật ở Tiểu học, thường thức mĩ thuật là một phân môn có thời lượng ít hơn các phân môn khác nhưng nó nhằm cung cấp những hiểu biết, nhận thức s¬ l­îc về MÜ thuËt nãi riªng lµm quen víi tranh vÏ cña ho¹ sÜ vµ thiÕu nhi, t×m hiÓu s¬ qua mét vµi NghÖ thuËt d©n téc (Nh­ tranh D©n gian, t­îng, phï ®iªu…) từ đó giáo dục học sinh lòng tự hào dân tộc, biết duy trì và phát triển những thành tựu nghệ thuật của cha ông để lại cũng như biết yêu thích và mở rộng tầm hiểu biết của các em ra thế giới thông qua các bài mĩ thuật. Tuy nhiên, do thói quen không chăm chú nghe giảng thêm vào đó đồ dùng dạy học hạn chế khiến các em thiếu tập trung, tư duy, nếu có thì chỉ đọc lại từ SGK không chịu tìm tòi, suy nghĩ. Chính vì vậy hiệu quả bài học chưa cao.
Trên đây là những vấn đề tồn tại trong thực tế giảng dạy, vì vậy tôi đã tìm ra một số phương hướng nhằm phát triển kĩ năng trong thường thức mĩ thuật cho học sinh các khối 3 + 4 + 5.
III. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN:
          A. Kĩ năng hướng dẫn học sinh:
     1. Giới thiệu bài mới:
Khi vào bài giáo viên không nên cứ thế là vào đề ngay mà có nhiều cách để vào đề hấp dẫn nhằm dẫn dắt, lôi cuốn các em vào bài học.
(1) Cho học sinh quan sát một bức tranh không có tác giả hoặc tên tác phẩm sau đó yêu cầu học sinh đoán tên tác giả hoặc tên tranh
          (2) Có thể cho các nhóm tự giới thiệu bức tranh mà nhóm mình sưu tầm được
          Sau đó giáo viên động viên, khích lệ bằng cách cho điểm đối với những nhóm có câu trả lời hay, sáng tạo, có tinh thần sưu tầm tài liệu để phục vụ học tập
            2. Hình thành và phát triển cho học sinh kĩ năng quan sát, phân tích, tổng hợp, đánh giá, áp dụng:
          - Kĩ năng quan sát :
          Giúp cho học sinh biết cách quan sát khi đứng trước một tác phẩm hay một đối tượng thẩm mĩ, quan sát từ tổng thể đến chi tiết. Trên cơ sở quan sát nhận biết tác phẩm về nội dung và hình thức thể hiện, các em biết phân tích cái hay, cái đẹp trong tác phẩm. Từ phân tích đến tổng hợp khái quát về tác phẩm và biết cách đánh giá tác phẩm đó, các em rút ra được bài học có thể áp dụng vào bài vẽ của mình. Ví dụ: Khi xem tác phẩm “ Bữa cơm ngày mùa thắng lợi” của hoạ sĩ Nguyễn Phan Chánh học sinh quan sát tác phẩm để thấy được nội dung và hình thức thể hiện. Nội dung được phản ánh trong tác phẩm hết sức đơn giản, gần gũi với đời sống thường ngày. Một bữa cơm của một gia đình nông dân có vợ chồng con cái ngồi
quanh một mâm cơm, người vợ đang xới cơm cho con , người chồng và cô con gái đang ăn. Phía sau là một đống rơm lớn. Màu sắc trong tranh thật giản dị, bằng gam màu nâu vẽ trên lụa. Sau khi quan sát nhận biết những nét chính của tác phẩm học sinh biết phân tích nội dung được thể hiện thông qua hình thức của tác phẩm. Để có được sự phân tích này, kiến thức về bố cục, đường
 
Bữa cơm ngày mùa thắng lợi - Nguyễn Phan Chánh
nét, hình mảng, màu sắc trong phân môn vẽ tranh  đề tài sẽ hỗ trợ để các em có thể nhận biết và phân tích. Ví dụ: Bố cục tranh cân đối và chặt chẽ, các nhân vật được thể hiện tự nhiên trong các tư thế khác nhau , người đang ăn, người đang gắp thức ăn, người đang chăm sóc con, các mảng phụ phía sau làm cho bức tranh thêm phần vững chắc . Màu sắc và bố cục, hình dáng các nhân vật cùng các chi tiết như nổi cơm trắng và đầy, mâm cơm có nhiều món ăn, mọi người ngồi ăn trong tư thế thư thái, đống rơm lớn, gam màu nâu ấm áp. Ngoài các yếu tố về bố cục, màu sắc, hình dáng… giáo viên phải cho học sinh tìm hiểu và làm quen với chất liệu bởi chất liệu sẽ góp phần tạo nên sự thành công của tác phẩm. Tất cả những yếu tố đó toát lên nội dung chủ đề của tác phẩm “Bữa cơm ngày mùa thắng lợi”. Từ đó học sinh khái quát được, cảm nhận được không khí gia đình thật đầm ấm , no đủ, hạnh phúc và thấy được giá trị nghệ thuật của tác phẩm là tính chân thực, tính dân tộc sâu sắc. Qua phân tích tác phẩm các em có thể học tập cách sắp xếp bố cục, cách sử dụng đường nét, đậm nhạt, màu sắc trong bài vẽ của mình.
- Ngoài kĩ năng phân tích, tổng hợp, đánh giá và áp dụng, cần hình thành và phát triển ở học sinh kĩ năng tự học, tự nghiên cứu SGK, sưu tầm tư liệu, tranh ảnh…
          *Để phát triển kĩ năng này cần phải yêu cầu học sinh đọc SGK, sưu tầm tư liệu liên quan đến nội dung của bài trên báo, tạp chí,…có thể đưa ra yêu cầu cụ thể bằng câu hỏi hoặc phiếu giao việc. Ví dụ:
          + Em hãy đọc, ghi tóm tắc nội dung giới thiệu về tác giả Trần Văn Cẩn, Bùi Xuân Phái,…
          + Em hãy xem và cho biết ý kiến nhận xét của mình về nội dung, hình thức, giá trị nghệ thuật của các tác phẩm “ Tát nước đồng chiêm”, những bức tranh về phố cổ Hà Nội, …Em có thể học tập được gì trong những tác phẩm đó?
          *Hay giáo viên có thể giao cho 4 nhóm những nội dung liên quan đến bài học, yêu cầu các em sưu tầm tranh ảnh rồi tạo thành những bài sưu tầm sau đó trình bày trước lớp
          *Với những nhiệm vụ như vậy chúng ta dần dần hình thành và phát triển ở học sinh kĩ năng tự học, tự nghiên cứu một cách độc lập, sáng tạo. Vào giờ học, giáo viên tổ chức các hoạt động để học sinh thảo luận trong nhóm và trình bày những hiểu biết của mình về nội dung bài học đã chuẩn bị. Các em có thể nêu những thắc mắc hoặc câu hỏi để giáo viên giải thích những điều mà các em chưa rõ. Giờ học sẽ thật sôi nổi và thú vị nếu các em chuẩn bị bài chu đáo trước khi đến lớp.
           *Khi học sinh nêu nhận xét của mình về các tác phẩm có thể còn phiến diện, chưa cụ thể hoặc chưa đúng chúng ta đừng vội đưa ra kết luận của mình hoặc điều chỉnh ý kiến của học sinh mà nên khuyến khích các em phát biểu ý kiến nhận xét của mình. Như vậy, giáo viên sẽ thu được ý kiến của nhiều học sinh. Trên cơ sở đó, giáo viên có thể phân tích khả năng tự nhận biết, kĩ năng của học sinh đến đâu và sau đó giáo viên cần cung cấp, bổ sung thêm kiến thức phát triển kĩ năng cho học sinh.Từ đó phần nào gây được hứng thú học tập cho học sinh đối với những bài thường thức mĩ thuật mà từ trước đến giờ các em cho là khô khan và khó tiếp thu nhất trong bộ môn mĩ thuật
B. Những năng lực và phẩm chất:
1. - Khuyến khích động viên các em trong giờ học: §éng viªn vµ khuyÕn khÝch các em còn ngại tham gia phát biểu.
    - Gặp gỡ ngoài giờ, thăm hỏi các em, trao đổi tạo sự gần gũi giữa thầy và trò để tìm biện pháp tốt nhất , lên lớp có hiệu quả cao.
    - Quan tâm hơn nữa các em chậm, ít năng khiếu để các em tích cực tham gia trong giờ học. Tạo nhiều cơ hội cho các em trao đổi kinh nghiệm với bạn bè, giáo viên, từ đó các em có nhiều hứng thú hơn trong giờ học Mĩ thuật.
2. - Phát huy trao đổi kinh nghiệm giảng dạy với đồng nghiệp để nâng cao chất lượng dạy học
    - Người giáo viên cần trau dồi cho mình vốn hiểu biết chung về nghiệp vụ sư phạm, kĩ năng vẽ tranh, khả năng tổng hợp, tổ chức uy tín của người giáo viên đối với học sinh.
   - Bản thân trước khi lên lớp phải soạn bài, xem bài kĩ, nắm vững nội dung bài dạy, phân bố thời gian hợp lí
   - Câu hỏi thảo luận đưa ra cho học sinh phải bám sát vào nội dung của bức tranh, phù hợp với đối tượng học sinh và chủ yếu là câu hỏi gợi mở để học sinh thảo luận nhóm theo sách giáo khoa có hiệu quả
    - Áp dụng các phương pháp dạy học hiện đại: Dạy học trên máy vi tính, sử dụng internet để khai thác các thông tin về nội dung bài học hoặc gợi ý để học sinh khai thác
    - Có thể kết hợp nhiều phương pháp dạy học trong bài học.
    - Phải có lòng yêu thương học sinh, tận tụy, yêu nghề khi đó người giáo viên mới thực sự truyền thụ cho học sinh những bài giảng hay trên lớp.
IV. KẾT QUẢ:
Sau khi thực hiện những phương pháp trên, chất lượng học sinh có nhiều chuyển biến. Các em có ý thích tìm tòi, phân tích các bức tranh của hoạ sĩ Việt Nam cũng như những tranh vÏ thiÕu nhi trªn t¹p chÝ, s¸ch b¸o...
Dưới đây là kết quả sau khi tôi áp dụng phương pháp mới vào việc dạy học môn thường thức mĩ thuật với việc cho các em th­êng thøc một số tác phẩm của hoạ sĩ Viêt Nam vµ cña ThiÕu nhi:   
          *KÕt qu¶ ®Çu n¨m:
+ Häc sinh kh¸ giái tr¶ lêi ®­îc c¸c h×nh ¶nh cã trong tranh
          + Tr¶ lêi ®­îc nh÷ng mµu cã trong bøc tranh
          + Ch­a x¸c ®Þnh râ néi dung bøc tranh
          + Ch­a ®­a ra ®­îc nh÷ng c¶m nhËn cña m×nh vÒ bøc tranh
          + Ch­a ®­a ra ®­îc lý do m×nh thÝch tranh ®ã
          *KÕt qu¶ häc k× 2:
+ 90% häc sinh n¾m ®­îc néi dung cña tõng bøc tranh
          + 50% häc sinh ®­a ra ®­îc nh÷ng c¶m nhËn riªng cña m×nh vÒ bøc tranh
          + 98% häc sinh ®¹t ®Çy ®ñ c¸c chøng cø cña ph©n m«n th­êng thøc
V. BÀI HỌC KINH NGHIỆM:
          - Để nâng cao chất lượng học tập của học sinh trong môn Mĩ thuật, đặc biệt là phân môn vẽ tranh đề tài, ngoài kinh nghiệm và phương pháp giảng dạy trên lớp đòi hỏi giáo viên phải nhiệt tình, yêu nghề chịu khó và say mê tận tuỵ với công việc giảng dạy.
          - Tham khảo góp ý rút kinh nghiệm và tham khảo các tài liệu liên quan đến chuyên môn.
          - Học sinh có ý thức trong học tập, biết trao đổi với nhau cùng tiến bộ, học sinh phải có đầy đủ dụng cụ học tập nhất là giấy và màu vẽ.
          - Phối hợp với nhà trường, hội phụ huynh quan tâm tạo điều kiện về cơ sở vật chất, dụng cụ dạy học để phục vụ thiết thực cho bộ môn này.
Trên đây là một số phương pháp của tôi trong công tác giảng dạy bộ môn Mĩ thuật nói chung và phân môn th­êng thøc MÜ thuËt nói riêng, với kinh nghiệm nhỏ nhoi này tôi hi vọng là sẽ phần nào thúc đẩy quá trình học tập của học sinh ngày càng tốt hơn. Rất mong sự góp ý của hội đồng khoa học đề đề tài được hoàn chỉnh.
 
 
Ý kiến của Hội đồng khoa học
Đội Bình, ngày 25 tháng 5 năm 2010
Người viết
 
 
 
 
Lª Hång §øc
 
 
Sáng kiến kinh nghiệm

Rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 1

Rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 1

Sự mong muốn lớn nhất của trẻ là được đến trường, được học đọc, học viết. Biết đọc, biết viết là cả một thế giới mở ra trước mắt các em.

 
I. PHẦN MỞ ĐẦU:
 
I.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
I.1.1. Cơ sở lý luận:
       Sự mong muốn lớn nhất của trẻ là được đến trường, được học đọc, học viết. Biết đọc, biết viết là cả một thế giới mở ra trước mắt các em.
       Xuất phát từ quan điểm chung là dạy Tập đọc kết hợp dạy ngữ và rèn đọc cho các em học tiếng mẹ đẻ. Hiện nay, ngành Giáo dục nói chung và bậc Tiểu học nói riêng, đã và đang tiến hành phương pháp dạy học đối với tất cả các môn học trong đó có môn Tập đọc. Mặt khác, tập đọc là một phân môn mang tính tổng hợp, bởi bên cạnh việc dạy học chúng ta còn trau dồi kiến thức về Tiếng Việt, kiến thức về văn học, về đời sống, giáo dục tình cảm, thẩm mĩ cho học sinh. Phân môn Tập đọc góp phần hình thành và phát triển kỹ năng đọc cho học sinh bằng một trong bốn kỹ năng cơ bản mà học sinh Tiểu học cần phải nắm vững. Hiện nay, ở nhà trường Tiểu học, việc rèn kỹ năng đọc đạt kết quả chưa cao. Tình trạng này do nhiều nguyên nhân, song nguyên nhân lớn nhất là cách thức về phương pháp rèn đọc chưa được coi trọng. Trên thực tế, nếu không có kỹ năng đọc thì học sinh không có điều kiện để học các môn học khác, không thể tiếp thu tri thức của nhân loại. Vì vậy, việc dạy đọc cho học sinh có ý nghĩa to lớn. Thông qua dạy đọc, giáo viên giúp học sinh đọc đúng, đọc hay và bồi dưỡng cho các em cái hay, cái đẹp trong cuộc sống. Giáo viên phải đặc biệt coi trọng và chú ý đến việc dạy văn kết hợp với dạy ngữ cho học sinh học tiếng mẹ đẻ một cách toàn diện. Dạy đọc đúng với dạy đọc hay, dạy đọc “ngôn ngữ” với dạy đọc “văn học”. Đó chính là cơ sở dạy học cho học sinh trưởng thành và phát triển cả về trí tuệ và tâm hồn, nhân cách và tri thức.
        Với học sinh lớp 1, các em bước đầu biết đọc thì giáo viên cần hướng dẫn đọc đúng, đọc nhanh, đọc lưu loát trôi chảy. Với học sinh lớp 3, giáo viên yêu cầu cao hơn nữa. Không chỉ đọc đúng, đọc nhanh mà còn phải đọc diễn cảm, đọc phải thể hiện được nội dung tình cảm của bài. Để từ đó các em có thể bộc lộ tình cảm của mình qua mỗi bài đọc một cách khác nhau. Với chương trình thử nghiệm Tiếng Việt Tiểu học 2000, tôi đã và đang từng bước thực hiện nhiệm vụ dạy tốt môn Tiếng Việt, trong đó có phân môn Tập đọc. Từ đó người giáo viên thấy rõ và xác định được việc dạy học tập đọc cho học sinh Tiểu học nói chung và học sinh lớp 1 nói riêng là một việc làm hết sức cần thiết. Chúng ta phải làm thế nào để thông qua môn Tập đọc giúp học sinh không những đạt được năng lực đọc mà phải hiểu nội dung của văn bản và các thể loại từ văn xuôi đến thơ ca. Hiểu được ý đồ của tác giả và bút pháp nghệ thuật mà mỗi tác giả đã thể hiện trong tác phẩm. Hay nói một cách khác, giáo viên phải tìm phương pháp tiếp cận làm cho học sinh có cảm tình với bài đó, thúc đẩy học sinh biểu lộ tình cảm, thái độ tự nhiên thông qua giọng đọc.
        Trong thực tế hiện nay, để thực hiện được vấn đề này, người giáo viên phải thay đổi cách truyền thụ để các em có thể nắm bắt được tri thức, thực hiện việc dạy theo hướng đổi mới.
        Mặt khác, việc dạy đọc cho học sinh đã có từ lâu và cũng có nhiều tài liệu đề cập đến. Tất cả đều khẳng định vai trò của việc dạy đọc - đọc hiểu - đọc diễn cảm cho học sinh. Vì vậy, trong quá trình dạy phân môn Tập đọc, giáo viên cần quan tâm đến tất cả các yếu tố cấu thành chất lượng phân môn Tập đọc và đặc biệt là việc dạy đọc cho học sinh phải được coi trọng. Thông qua việc dạy đọc giúp các em hiểu văn bản, tiếp thu và chiếm lĩnh kiến thức. Biết đọc diễn cảm là thể hiện được những cảm xúc, tình cảm theo từng nội dung.
I.1.2. Cơ sở thực tiễn:
        Mặc dù lâu nay các thầy cô giáo đã và đang thực hiện viậc rèn đọc đúng, đọc diễn cảm cho học sinh, nhất là đối với học sinh tiểu học, nhưng điều đó vẫn còn bị hạn chế.
        Bản thân tôi là một giáo viên Tiểu học đã trực tiếp dạy lớp 1 với chương trình Tiểu học 2000, tôi thấy được quá trình dạy đọc đúng - đọc diễn cảm cho học sinh Tiểu học là rất quan trọng. Đối với học sinh lớp 4-5, việc đọc diễn cảm và đọc đúng đã là vấn đề khó thì đối với học sinh lớp 1 lại càng khó hơn nhiều. Bởi vì các em đều là học sinh mới bắt đầu đến trường, việc làm quen với các con số và mặt chữ còn khó khăn thì việc đòi hỏi các em đọc đúng, đọc diền cảm lại càng khó.Nhưng nếu được quan tâm rèn luyện thì các em dần dần sẽ tiếp thu được.
Thực tế khảo sát chất lượng của phân môn Tập đọc đầu năm của học sinh cho thấy, học sinh phát âm sai rất nhiều, phổ biến là sai các phụ âm đầu, vần và dấu thanh. Học sinh thường phát âm sai phụ âm đầu l/n, ch/tr, s/x và các thanh hỏi – ngã. Học sinh đọc bài chưa biết ngắt nghỉ dấu chấm, dấu phẩy trong một bài văn, bài thơ. Các em chưa biết đọc diễn cảm, hạ giọng hay kéo dài giọng… ở câu thơ, câu văn nào để người nghe cảm thấy cái hay của bài thơ hoặc bài văn đó.
        Về giáo viên, việc rèn cho học sinh kỹ năng đọc còn có một số hạn chế cần khắc phục. Hơn nữa quy trình phân môn Tập đọc thử nghiệm Tiểu học 2000 còn mới mẻ nên tôi phải vừa làm, vừa tìm tòi học hỏi để tự bồi dưỡng bản thân, trang bị cho mình một vũ khí sắc bén để dạy học đạt kết quả cao. Là một giáo viên, tôi không thể không lo ngại trước kết quả khảo sát phân môn Tập đọc của lớp 1A.          Cụ thể đầu năm 2009 – 2010 tôi tiến hành khảo sát như sau:
TSHS/27
Đọc ngọng
Đọc sai p/âm
Đọc sai dấu
Đọc đúng
Đọc diễn cảm
TS
%
TS
%
TS
%
TS
%
TS
%
Khảo sát đầu năm
4
15
12
44
3
11
8
30
0
 
 
        Xuất phát từ cơ sở lý luận và trước thực tế trên của lớp thì với yêu cầu của chương trình thực nghiệm môn Tiếng Việt tiểu học 2000. Tôi có băn khoăn suy nghĩ là phải làm gì và làm như thế nào để các em phát âm chuẩn, đọc đúng, đọc diễn cảm.
        Với đề tài này, tôi mạnh dạn trình bày một số phương pháp rèn kỹ năng đọc cho học sinh lớp 1 nhằm nâng cao chất lượng giờ dạy đọc. Khi viết đề tài này tôi đã phát huy tất cả kiến thức được học, được bồi dưỡng qua các lớp học chuyên môn và học hỏi, kế thừa kinh nghiệm của đồng nghiệp đi trước. Đặc biệt là kinh nghiệm thực tế qua các giờ dạy mà đối tượng chính là học sinh của mình. Do đó tôi muốn đưa ra những phương pháp đặc trưng ở góc độ chủ quan mà tôi đã tiếp thu được trong đợt bồi dưỡng hè 2004. Từ nhận thức trên, bản thân tôi đã rút ra bài học “Rèn kỹ năng đọc cho học sinh lớp 1 thông qua môn Tập đọc”.
 
I.2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
       Bản thân tôi khi nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích tìm ra phương pháp và hướng đi giúp học sinh học tập tốt hơn. Qua đó từng bước nâng cao năng lực đọc đúng, đọc hay, đọc diễn cảm của mỗi học sinh.
  • Về đọc đúng: Học sinh đọc đúng các phụ âm đầu vần, thanh, đọc đúng tiếng từ, câu, đoạn văn, bài văn, bài thơ.
  • Đọc hay, đọc diễn cảm: Học sinh khi đọc bài văn, bài thơ phải biết ngắt nghỉ đúng các dấu chấm, dấu phẩy, dấu chấm hỏi, dấu chấm cảm. Khi đọc biết lên giọng, hạ giọng ở những câu văn, bài thơ, hơn nữa là đọc phân vai.
  • Học sinh hiểu được nội dung văn bản và thể loại (văn xuôi hay thơ), từ đó học sinh có thái độ, tình cảm đúng trong cuộc sống.
  • Thông qua dạy học giúp các em có điều kiện tiếp cận và nắm bắt các môn học, hiểu các văn bản, tiếp thu và chiếm lĩnh được tri thức, tự tin khi giao tiếp nhằm góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện đại, phát triển toàn diện về mọi mặt Đức - Trí - Thể - Mĩ cho học sinh.
 
I.3. THỜI GIAN - ĐỊA ĐIỂM:
a) Lập đề cương nghiên cứu:
     Thời gian nghiên cứu từ tháng 9/2009 đến tháng 5/2010.
b) Triển khai nghiên cứu:
     Thời gian nghiên cứu từ tháng 1/2010 đến tháng 5/2010.
c) Hoàn thành đề tài: 15/5/2010
*) Phương pháp nghiên cứu.
a. Đối với giáo viên:
        Giáo viên tự học hỏi kinh nghiệm và phương pháp truyền thụ ở những đồng nghiệp có kinh nghiệm trong giảng dạy về những điểm hợp lý và chưa hợp lý. Phải xem các giáo viên thường sử dụng phương pháp gì trong quá trình rèn đọc đúng và đọc diễn cảm.
        Nghiên cứu tài liệu hướng dẫn dành cho giáo viên với chương trình thử nghiệm 2000 để rút ra những phương pháp tối ưu nhất.
       Thường xuyên dự giờ thăm lớp các đồng nghiệp để học tập và rút kinh nghiệm cho bản thân.
       Tham gia các buổi sinh hoạt chuyên môn của tổ và tham dự các chuyên đề do trường, phòng giáo dục tổ chức để đưa ra các phương pháp cải tiến. Trên cơ sở phát huy những ưu điểm của phương pháp dạy truyền thống áp dụng vào dạy học theo hướng đổi mới phù hợp với đối tượng học sinh của lớp mình.
      Dạy một số giờ theo sách thử nghiệm để giáo viên trong tổ và chuyên môn trường dự giờ góp ý.
      Thường xuyên tiến hành khảo sát chất lượng phân môn Tập đọc hàng tháng, kỳ khi mà học sinh đã được rèn đọc để so sánh thấy được hiệu quả của phương pháp mới.
b. Đối với học sinh:
       Học sinh trong lớp phải đủ sách giáo khoa Tiếng Việt tập 1 và tập 2 của chương trình Tiểu học 2000. Có đủ vở Bài tập Tiếng Việt – Bài tập Tiếng Việt nâng cao để phục vụ cho học sinh học phân môn Tập đọc.
*) Giả thiết khoa học:
       Đối với phân môn Tập đọc, muốn học tốt học sinh phải có kỹ năng đọc và hiểu nội dung bài, giá trị nghệ thuật của bài. Từ đó học sinh biết cách thể hiện cảm xúc của giọng đọc một cách đúng mức.
       Khi đã được trang bị năng lực đọc, kỹ năng đọc tốt, học sinh sẽ ham thích tìm hiểu, biết bộc lộ tình cảm một cách đúng mức trong cuộc sống xã hội.
        Ngoài ra để học tốt các em cần phải có vốn ngôn ngữ phong phú, đa dạng. Có như vậy các em sẽ có đủ điều kiện học tốt các môn học khác.
        Dạy học tốt phân môn Tập đọc còn giúp học sinh có một vốn ngữ chuẩn mực để tiếp thu tri thức khoa học và tự nhiên xã hội.
        Nhiều tài liệu và các chuyên gia nghiên cứu đã nhận định: Dạy - Học tốt phân môn Tập đọc sẽ tạo tiền đề cho các em bước vào lĩnh vực khoa học một cách vững chắc.
I.4. ĐÓNG GÓP MỚI VỀ MẶT LÝ LUẬN, VỀ MẶT THỰC TIỄN:
        Để xây dựng một đề tài thì việc nghiên cứu lý luận là không thể thiếu được. Khi nghiên cứu đề tài này tôi đã nghiên cứu, tham khảo các sách giáo khoa, sách giáo viên và nhiều tài liệu có liên quan đến việc nghiên cứu đề tài này.
        Thông qua đề tài này nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ sau đây:
  • Rèn kỹ năng và năng lực đọc cho học sinh.
  • Trau dồi kiến thức văn học, kiến thức ngôn ngữ, kiến thức đời sống cho học sinh.
  • Giáo dục thẩm mĩ - tình cảm - phát triển tư duy cho học sinh.
  • Học sinh học môn Tiếng Việt có kết quả cao trong đó có phân môn Tập đọc.
  • Học sinh đọc tốt còn giúp các em học tốt các môn khác.
        Để tiến hành làm đề tài này, tôi đã nghiên cứu sách giáo khoa phân môn Tập đọc lớp 1 để tìm hiểu nội dung, cấu trúc của chương trình. Tìm hiểu việc dạy và học của các em có hệ thống nội dung bài học (nội dung sách giáo khoa thử nghiệm Tiếng Việt Tiểu học 2000). Nghiên cứu tài liệu hướng dẫn dành cho giáo viên của môn Tiếng Việt trong đó có phân môn Tập đọc lớp 1. Nghiên cứu rút kinh nghiệm qua từng tiết dạy để rút ra những điều cần thực hiện.
       Nghiên cứu tài liệu có liên quan đến môn Tiếng Việt nhất là phân môn Tập đọc.
       Học hỏi các đồng nghiệp trong trường nhất là giáo viên khối 1. Vì vậy đây cũng là dịp để bản thân tôi học hỏi và tham gia các tài liệu tham khảo của các chuyên gia nghiên cứu dạy phân môn Tập đọc cho học sinh và qua đó có thể tự bồi dưỡng bản thân.
       Ở đề tài này tôi tập trung nghiên cứu các đối tượng là học sinh lớp 1 trường Tiểu học An Sinh A - Đông Triều - Quảng Ninh.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
II. PHẦN NỘI DUNG:
 
II.1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
        Học sinh Tiểu học ở độ tuổi 6-12 tuổi là giai đoạn phát triển mới của tư duy. Ở lứa tuổi này trẻ em có những đặc điểm riêng, đó là tri giác của các em còn mang tính trực quan cụ thể vì kinh nghiệm sống của các em còn hạn chế. Vì thế, trẻ thường lẫn các đối tượng có hình dạng hay cách phát âm các âm, tiếng, từ na ná giống nhau, chưa biết phân biệt đâu là đúng, là sai. Ở lứa tuổi học sinh Tiểu học, các em chủ yếu học và chơi. Đây là hai hoạt động đan xen nhau. Trẻ em nặng tính hồn nhiên, ngây thơ trong sáng. Các em dễ tin và nghe lời thầy cô, tin vào khả năng học tập của chính bản thân các em, tin vào những điều nhà trường, gia đình, xã hội đã dạy dỗ các em nên người. Ở lứa tuổi này tâm lý của các em là thích được khen hơn chê, cho nên khi các em đọc bài tốt, đạt điểm cao, được thầy cô khen, bạn bè quý mến các em rất thích. Vì vậy người giáo viên Tiểu học phải nắm bắt được tâm sinh lý học sinh Tiểu học. Do đó khi nghiên cứu đề tài sử dụng phương pháp rèn đọc cho học sinh lớp 1 qua môn Tập đọc là rất phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của các em.
 
II.2. CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
II.2.1. Các thành tựu đã đạt được trong thời gian qua:
       Hội thảo Quốc gia về đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học đã đề ra các quan điểm chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học, cụ thể là:
      Quán triệt và vận dụng hợp lý mục tiêu của giáo dục Tiểu học trong mọi trường học ở bậc Tiểu học.
      Trong mọi hoạt động dạy học phải đảm bảo sự bình đẳng về cơ hội phát triển năng lực và sở trường của từng học sinh hay là quan điểm của dạy học cá thể hoá.
Đổi mới quá trình dạy học, phương pháp dạy học là một quá trình lâu dài nó gắn liền với đổi mới mục tiêu nội dung, cơ sở vật chất để phù hợp với điều kiện từng địa phương. Đưa các hình thức tổ chức dạy học mới vào trường Tiểu học tạo điều kiện cho giáo viên có thể tổ chức dạy học mới theo các hình thức đã và đang được triển khai ở một số địa phương.
       Với đề tài này cho phép các nhà khoa học nghiên cứu trên nhiều phương diện ở nhiều góc độ, tiếp cận trong các phạm vi lớn nhỏ, ở những địa phương có đặc thù khác nhau.
       Thông qua kết quả của việc điều tra, khảo sát chất lượng bộ môn Tập đọc lớp 1; tìm hiểu kinh nghiệm đúc kết của giáo viên trực tiếp giảng dạy thông qua việc nghiên cứu chương trình, tài liệu để có phương pháp rèn kỹ năng đọc cho học sinh các lớp 1 nói riêng đạt kết quả cao nhất.
II.2.2. Nghiên cứu chương trình sách giáo khoa:
       Qua việc nghiên cứu một số tài liệu Sư phạm tôi đã rút ra một số điểm đáng lưu ý như sau:
      - Giáo trình “Phương pháp dạy học Tiếng Việt” trong các phương pháp dạy Tập đọc có phương pháp trực quan và phương pháp luyện tập là hết sức quan trọng. Trực quan không chỉ là tranh ảnh hay vật thực mà nó còn là giọng đọc mẫu của giáo viên - một hình thức sinh động và có hiệu quả. Giáo viên phải đọc đúng thể loại, đúng ngữ điệu, biểu hiện tình cảm qua nét mặt, cử chỉ, điệu bộ. Bên cạnh đó còn hình thức trực quan thứ hai là ghi các tiếng khó, câu khó, đoạn khó đọc vào bảng phụ để học sinh tri giác cụ thể hơn. Giáo viên cần chép rõ ràng và hướng dẫn tỉ mỉ. Đó chính là các hình thức trực quan rất cần thiết cho việc rèn đọc. Các em có đọc đúng thì mới có thể viết được đúng. Ở phương pháp luyện tập sẽ có các quá trình luyện tập là: đọc đúng âm, tiếng, câu; biết ngắt nghỉ đúng chỗ khi đọc. Giọng đọc phải thể hiện qua bài văn hay bài thơ và thể hiện cảm xúc qua nội dung bài đọc. Đọc sai chỗ ngắt giọng phản ánh một cách hiểu sai nghĩa hoặc ít ra một cách đọc không để ý đến nghĩa.
        Vì vậy, đọc đúng ngữ điệu nói chung, ngắt giọng đọc đúng nói riêng vừa là mục đích của việc dạy đọc thành tiếng, vừa là phương tiện giúp học sinh chiếm lĩnh nội dung bài đọc. Bài này chỉ ra cơ sở ngữ nghĩa, ngữ pháp của chỗ ngắt giọng, chỗ cần phát âm đúng. Thực tế học sinh lớp 1 luyện đọc đúng là nhiệm vụ trọng tâm bởi theo chương trình Tập đọc trong sách Tiếng Việt 1 chỉ có 13 tuần bao gồm cả nội dung ôn tập và thi. Bên cạnh đó học sinh vừa chuyển từ phần vần sang tập đọc thì mục tiêu chính là giúp các em nhận diện chữ để đọc đúng, đọc trôi chảy lưu loát, biết ngắt nghỉ hơi hợp lý, lưu ý cả cách đọc nhấn giọng.
       - Giáo trình “Rèn kỹ năng sử dụng Tiếng Việt”. Muốn rèn cho các em có kỹ năng, phương pháp đọc tốt thì trước tiên giáo viên cần phát hiện những nguyên nhân dẫn đến đọc sai, từ đó áp dụng các cách thức, các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt trong quá trình áp dụng qua việc nghiên cứu để hướng dẫn học sinh.
       Việc áp dụng ngữ điệu đọc phù hợp làm tiêu chuẩn tức là cách xác định chính xác tiết tấu của giọng đọc, nhịp điệu đọc, cường độ, độ cao, sắc thái giọng đọc, nét mặt, cử chỉ, điệu bộ trong khi đọc để người nghe dễ hiểu, cảm nhận được cái hay, cái đẹp trong bài văn, bài thơ.
        Về tốc độ âm lượng đọc: Mỗi bài Tập đọc có tốc độ âm lượng đọc khác nhau. Như vậy người giáo viên cần phải nắm chắc các kỹ thuật trên để làm mẫu cho học sinh và hướng dẫn truyền thụ lại cho các em những kỹ thuật đó. Khi học sinh đã hoàn chỉnh các kỹ thuật trên cũng chính là đã đạt đỉnh cao của phương pháp rèn đọc cho học sinh Tiểu học.
      Chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt 1:       
  • Chương trình Tiếng Việt 1 chia thành 3 phần cơ bản.
+  Học vần:  Chữ cái:     Tuần 1 - Tuần 6
                     Vần     :      Tuần 7 - Tuầm 24
+  Tập đọc:   Tuần 25 - Tuần 35.
  • Chương trình Tập đọc lớp 1 bao gồm cả phần nội dung kiến thức mới và nội dung kiến thức ôn tập là 13 tuần. Trong đó cũng được phân thành các chủ đề sau:
+  Chủ đề nhà trường          : 4 tuần
+  Chủ đề gia đình               : 4 tuần
+  Chủ đề thiên nhiên - Đất nước: 4 tuần
    Riêng tuần 35 dành cho phần ôn tập và kiểm tra.
  • Các bài Tập đọc được xếp theo chủ đề gần gũi, đan xen, kết hợp, phân bố rất hợp lý.
  • Nội dung là những bài văn, bài thơ, những câu chuyện ngắn, hay, hấp dẫn, gắn với cuộc sống sinh hoạt của các em.
  • Đặc biệt ở mỗi bài Tập đọc thường có tranh minh hoạ với màu sắc đẹp, hình ảnh sinh động phù hợp với nội dung từng bài.
II.2.3. Những vấn đề thực tiễn:
     Tôi tiến hành điều tra trường Tiểu học An Sinh A - Đông Triều:
II.2.3.1. Về giáo viên:
      Phương thức điều tra giáo viên bằng phiếu thăm dò: Đánh dấu vào ô trống theo đồng chí là đúng, là thường thực hiện dạy tập đọc hoặc nêu hình thức mà giáo viên thường làm.
     Câu 1: Đồng chí cho biết trong một giờ Tập đọc ở lớp 1, đồng chí đã rèn đọc cho học sinh như thế nào, hãy kể cách làm cụ thể?
     Câu 2: Trong một giờ Tập đọc, đồng chí đã chú ý đối tượng học sinh nào?           Đồng chí hãy đánh dấu x vào ô trống mà đồng chí cho là đúng:
                            Học sinh khá – giỏi
                            Học sinh trung bình
                            Học sinh yếu kém
     Câu 3: Trong số hình thức dạy học sau đây, đồng chí thường chọn những hình thức nào? Hãy đánh dấu x vào ô mà đồng chí cho là đúng:
                            Dạy học cá nhân
                            Dạy học theo nhóm
                            Dạy học cả lớp
     Hình thức dạy học nào là quan trọng nhất (ghi cụ thể tên hình thức dạy đó).
     Câu 4: Đồng chí hãy kể tên những phương pháp mà đồng chí đã vận dụng để dạy một giờ Tập đọc cho học sinh lớp 1.
*Thực trạng của giáo viên:
a. Ưu điểm:
       Thực tế dạy học ở trường tiểu học An Sinh A cho thấy: Giáo viên đã tìm hiểu kỹ bài dạy và truyền đạt đủ kiến thức cơ bản theo yêu cầu sách giáo khoa với việc phát huy tính tích cực của học sinh. Họ dành thời gian cho học sinh làm việc với sách giáo khoa. Kết hợp nhiều phương pháp trong một tiết dạy như: giảng giải trực quan, vấn đáp, gợi mở để dẫn dắt học sinh tìm ra kiến thức. Giáo viên luôn có sự chuẩn bị đồ dùng trực quan.
b. Một số tồn tại:
       Khi dạy một tiết Tập đọc, nhiều giáo viên chưa thực sự chú ý rèn đọc cho học sinh khi học sinh đọc sai. Số ít giáo viên chưa chú ý tới việc luyện cách đọc một câu văn dài, học sinh đọc còn gặp nhiều khó khăn.
       Hầu hết các tiết dạy về Tập đọc, khi sử dụng các hình thức trực quan thì chỉ dừng ở chỗ giáo viên làm động tác minh hoạ hoặc đưa ra vật thực. Một số bài dạy chay không phóng to được hình vẽ. Nhiều khi ác tranh đưa ra còn hạn hẹp, kém về hình thức. Điều này không gây được hứng thú học tập cho các em. Do tập tục địa phương nên các em rất hay đọc ngọng phụ âm l/n, ch/tr, s/x và ngọng về dấu hỏi – ngã.
        Mặt khác, số ít giáo viên chưa chú ý cho học sinh cách đọc đúng nhịp điệu thơ, đọc ngắc ngứ những câu văn dài. Trong khi tìm hiểu nội dung bài, một số giáo viên dành nhiều thời gian để giảng giải, đàm thoại (thầy hỏi – trò suy nghĩ, sau đó gọi 1 – 2 em lên trả lời). Vì vậy, giáo viên chưa kiểm soát được số đông học sinh trong lớp và dành nhiều thời gian hợp lý cho các em hoạt động tự tìm kiếm, lĩnh hội kiến thức theo khả năng của mình.
   * Nguyên nhân:
     Nguyên nhân của một số tồn tại kể trên là do giáo viên chưa nghiên cứu kỹ nội dung của sách giáo khoa và sách hướng dẫn giảng dạy để từ đó chọn phương pháp dạy và nội dung dạy học một cách thích hợp nhất.
II.2.3.2. Thực trạng của học sinh:
Tôi đã tiến hành điều tra học sinh lớp 1A tổng số là 27 em.
  • Phương thức điều tra 1: Bằng hình thức thăm dò điền vào dàn ý, vào ô trống mà em cho là đúng hoặc hình thức lựa chọn từ thích hợp để điền vào ô trống.
      Câu 1: Điền vào chỗ trống n hoặc l.
                 Cây ….úa,     ……ấu cơm,    ……ăn tròn.
      Câu 2: Điền vào chỗ trống chao hay trao.
                  ………… ơi!, …………giải thưởng.
      Câu 3: Điền vào chỗ trống n hoặc ng.
                 Cây bà……., bà….. ghế.
      Điều tra kết quả phương thức 1:
        Câu 1: 65,5% học sinh trả lời đúng.
        Câu 2: 87% học sinh trả lời đúng.
        Câu 3: 50% học sinh trả lời đúng.
      Từ kết quả điều tra phương thức trên tôi thấy học sinh đọc sai nhiều nhất là phụ âm l/n, s/x. Hai phụ âm này học sinh hay đọc sai, trong đó có một phần lỗi học sinh chưa chú ý và giáo viên đọc chưa chuẩn.
  • Phương thức điều tra 2:
      Tôi tiến hành điều tra vào lớp giảng dạy và khảo sát cụ thể qua việc đọc của từng học sinh.
      Qua điều tra thực tế việc đọc của học sinh, tôi thấy thực trạng của học sinh lớp tôi có ưu nhược điểm sau đây:
  • Ưu điểm:
  Năm học 2009 – 2010, học sinh đã được học nhiều bài Tập đọc bằng giáo án điện tử tạo điều kiện tốt cho học sinh trong giờ học. Nói chung đa số học sinh đọc được nội dung bài và bước đầu có kỹ năng đọc đúng. Đã có một số em biết áp dụng vào giờ ngoại khoá.
       Một số em đã biết đọc diễn cảm và có ý thức học tập tốt, hăng hái phát biểu ý kiến xây dựng bài.
  • Hạn chế:
       Một số em chưa thực sự hiếu học, hay quên đồ dung học tập, chưa chuẩn bị đầy đủ trước khi đến lớp. Một số học sinh yếu vừa đọc vừa đánh vần, số đông học sinh khác đọc trôi chảy song chưa biết nhấn mạnh ở các từ ngữ cần chú ý cũng như cách ngắt nghỉ đúng dấu câu.
       Ví dụ: Chỗ ngừng giọng giữa chủ ngữ và vị ngữ, giữa động từ và bổ ngữ. Đó là chưa kể trong thơ, hầu như người ta đã bỏ các dấu câu, nhiều bài văn xuôi tác giả không dùng các dấu phẩy như yêu cầu của nhà trường. Đây là nguyên nhân dẫn đến học sinh không đọc đúng chỗ ngắt giọng ở những câu dài có cấu trúc ngữ pháp phức tạp.
       Ngắt giọng hay là đích của dạy học và cũng là một trong những phương tiện để dạy tiếp cận, chiếm lĩnh văn bản được đọc. Từ đó các em đọc đúng phụ âm đầu, ngắt giọng đúng và hay; tôi đã hướng dẫn để các em cảm thụ được nội dung bài học theo từng chủ điểm. Nhờ đó các em trau dồi cho mình vốn từ phong phú, cách viết trong sáng, mạch lạc, bố cục chặt chẽ, nội dung hấp dẫn trong phân môn Tập đọc.
      Qua quá trình thực tế dạy Tập đọc cho học sinh lớp 1 nhiều em tiếp thu bài nhanh, đọc tốt, song vẫn còn tồn tại một số em đọc chưa thạo.
      Học sinh lớp 1 Trường Tiểu học An Sinh A – Đông Triều, trong không khí xã hội hóa giáo dục của ngày khai giảng năm học mới, phụ huynh đưa con em đến trường, các em từ nhiều vùng quê khác nhau theo cha mẹ đến đây lập nghiệp. Tiếng nói địa phương mang tính chất vùng miền đã để lộ sự giao thoa đến cách phát âm của một số học sinh trong lớp. Chủ yếu là lẫn lộn phụ âm đầu l/n. Một số em khi được gọi đọc bài còn mắc nhiều lỗi phát âm, đọc và trả lời các câu hỏi còn nhỏ, trả lời không đủ câu, đọc kéo dài….Có thể nói, đó là nguyên nhân khách quan tác động “vô thức” đến một số ít học sinh.
 
II.3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU – KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
      Tập đọc là phân môn chủ yếu rèn cho học sinh kỹ năng đọc, từ mức độ nhận biết để đọc đúng, rõ rang đến mức độ cao hơn là đọc lưu loát, biết ngắt nghỉ, lên -  xuống giọng và thể hiện thái độ tình cảm qua bài Tập đọc, học sinh hiểu được nội dung của bài.
     Để đạt được mục đích ấy, trước hết người giáo viên phải có phương pháp rèn đọc đúng, có các hình thức rèn đọc cũng như tinh thần trách nhiệm đối với nghề trên cơ sở giúp học sinh nhận thức được việc rèn đọc trong trường Tiểu học. Từ đó áp dụng các phương pháp rèn đọc linh hoạt sẽ đem lại kết quả khả quan hơn.
II.3.1. Phương pháp trực quan:
  • Phương pháp này phù hợp với tư duy, tâm lý lứa tuổi ở bậc Tiểu học:
    Ở phương pháp này giáo viên đưa ra những bức tranh minh hoạ bằng vật thật cho từng bài (gọi chung là đồ dung học tập) để phục vụ cho quá trình rèn đọc của học sinh kết hợp đọc hiểu và bước vào đọc diễn cảm tốt.
    b. Các hình thức trực quan (Cách dạy):
   * Giọng đọc mẫu của giáo viên: Đây là một hình thức trực quan sinh động và có hiệu quả đáng kể, có tác dụng làm mẫu cho học sinh luyện đọc. Do đó, muốn rèn đọc cho học sinh tôi luôn chuẩn bị trước các bài ở nhà để cho học sinh đọc đúng các thể loại, đúng ngữ điệu, tránh đọc đều đều mà cần phải biết biểu hiện tình cảm của mình qua cử chỉ, ánh mắt, nét mặt, nụ cười khi đọc.
   *Luyện đọc từ khó:
       Khi hướng dẫn học sinh phát âm tôi thường phân tích cho các em thấy sự khác biệt giữa cách phát âm đúng với cách phát âm sai mà học sinh thường mắc như các tiếng có phụ âm l/n, ch/tr, s/x.
       Điều này cần hướng dẫn tỉ mỉ và có trực quan cho các em thấy được sự khác nhau của nó để phân biệt rõ khi đọc phát âm cho đúng. Đặc biệt đối với học sinh yếu, tôi còn sử dụng các trực quan cụ thể để các em thấy được hệ thống cách phát âm như môi, răng, lưỡi (bộ máy phát âm) khi phát âm nó như thế nào. Cụ thể hơn, tôi làm mẫu trực tiếp để học sinh quan sát và luyện cách phát âm.
       Ngoài hình thức trên, tôi còn ghi các từ khó để luyện đọc bằng phấn màu lên bảng (bảng phụ) . Tôi dùng phấn màu ghi các phụ âm, vần khó, làm nổi bật các phụ âm, vần khó trong các từ luyện đọc để các em được nhìn (bằng mắt), được tập phát âm (bằng miệng), được nghe (bằng tai) và có thể được viết bằng tay vào bảng con. Có như vậy các em sẽ nhớ lâu và đọc đúng.
       Giáo viên đọc mẫu – Học sinh giỏi luyện đọc.
       Học sinh thường đọc sai phụ âm, sai vần luyện đọc. Học sinh yếu cần luyện nhiều và tôi yêu cầu học sinh phân tích các từ có tiếng, vần mà các em hay đọc sai để nắm bắt rõ hơn. Đa số học sinh đọc tốt, trừ một số trường hợp đặc biệt (các em bị dị tật về bộ máy phát âm) còn lại với cách rèn đọc trên các em đã đọc tốt.
  • Luyện đọc câu – đoạn – bài:
      Kết hợp với rèn phát âm đúng tiếng, từ có phụ âm, có vần học sinh hay phát âm sai; tôi còn rèn cho học sinh biết ngắt, nghỉ đúng dấu chấm, dấu phẩy và đọc lưu loát (đây là yêu cầu trọng tâm của hcọ sinh lớp 1).
      Bước sáng phần đọc, đa số các em còn đọc chưa chuẩn, đọc còn ngắc ngứ, đọc từng âm, tiếng. Một số học sinh yếu còn phải dừng lại để đánh vần. Nhiều em chưa biết nghỉ hơi đúng lúc, đúng chỗ. Để khắc phục tình trạng này, tôi đã dành nhiều thời gian hơn cho việc luyện đọc. Tuy nhiên vẫn đảm bảo đủ nội dung trong một giờ Tập đọc. Dùng thời gian thích đáng cho việc luyện đọc (ở lớp và ở nhà).
       Khi học sinh đọc tôi theo dõi để nhắc nhở học sinh ngắt nghỉ đúng dấu chấm, dấu phẩy. Đọc rõ từng cụm từ, câu, tránh đọc kéo dài giọng.
       Đối với học sinh yếu phần luyện đọc chưa đạt yêu cầu, các em dung bút chì đánh dấu vào sách giáo khoa, về nhà tự luyện đọc, tiết học sau tôi kiểm tra.
       Rèn kỹ năng đọc: đọc câu, đoạn hay cả bài, tôi luôn hướng dẫn các em rất tỉ mỉ. Trong các giờ Tập đọc, tôi thường chép sẵn các đoạn văn hay thơ cần lưu ý về cách đọc. Nếu là bài đọc thuộc long cũng cần phải chép ra bảng phụ để học sinh tri giác cụ thể, cần chép rõ rang mới có tác dụng trực quan tốt.
      Khi dạy học thuộc long, tôi chép bài lên bảng (bảng phụ) rồi luyện đọc cho các em bằng phương pháp xoá dần chỉ để lại từ điểm tựa. Phần này làm trực quan tốt thì các em học dễ nhớ và thuộc bài nhanh hơn so với phương pháp để học sinh đọc ở sách giáo khoa.
  • Dùng tranh ảnh, vật thật:
      Đây là phương pháp có tác dụng không khó trong việc rèn kỹ năng đọc cho học sinh. Nhưng khi đã sử dụng tranh ảnh thì các bức tranh đó phải to, đẹp, rõ rang. Nếu không có điều kiện phóng to, tôi sử dụng tranh ảnh minh hoạ ngay ở trong sách giáo khoa. Tuỳ từng bài để ta có thể sử dụng trực quan cho phù hợp.
      Tôi yêu cầu học sinh khi đọc phải nhấn mạnh các từ chỉ màu, sắc, độ.
      Học sinh phải nhớ từ cần nhấn mạnh. Luyện đọc từ cần nhấn mạnh, ngay cả các em yếu cũng đọc được.
      Sử dụng phương pháp này giúp học sinh có kỹ năng đọc và tiếp thu bài tốt, đọc diễn cảm bài.
      Giúp học sinh dễ hiểu bài hơn và gây hứng thú cho học sinh khi đọc, nhằm khắc sâu kỹ năng đọc và nắm nội dung bài của học sinh. Phương pháp này nhằm củng cố niềm tin vững chắc cho học sinh.
II.3.2. Phương pháp đàm thoại:
    a. Phương pháp này phù hợp với tâm lý trẻ nhỏ, các em thích được hoạt động (hoạt động lời nói).
     Phương pháp đàm thoại được thực hiện trên cơ sở trao đổi câu hỏi phục vụ cho nội dung bài. Ở đây có thể thấy, giáo viên nêu câu hỏi dẫn dắt, gợi mở; trò tìm tòi, khám phá, chiếm lĩnh kiến thức. Ngược lại, trò có thể nêu câu hỏi thắc mắc để giáo viên có thể hướng dẫn và giải đáp.
   b. Các hình thức đàm thoại:
    - Bước 1: Rèn cho học sinh.
    Khi rèn kỹ năng đọc và hiểu cho học sinh, tôi thường chuẩn bị trước câu hỏi sao cho phù hợp với học sinh và bài đọc. Muốn học sinh hiểu nội dung, trước hết học sinh phải có kỹ năng đọc đó là: Đọc đúng lưu loát, trôi chảy bài đọc. Có đọc thông văn bản thì các em mới hiểu nội dung bài và hiểu giá trị nghệ thuật của bài dẫn đến sự cảm thụ tốt và đọc diễn cảm tốt hơn. Để đạt những yêu cầu đó, tôi thường đưa ra những câu hỏi cần sử dụng đúng lúc, đúng chỗ, phù hợp với từng bài đọc.
Bước 2: Rèn đọc hiểu cho học sinh.
     Kết hợp với việc rèn đọc đúng, cần rèn đọc hiểu cho học sinh. Đọc hiểu ở đây có thể là từ khoá, từ trung tâm, câu, đoạn, bài.
     Tóm lại, trong giai đoạn đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp đàm thoại chỉ dùng để gợi mở, dẫn dắt để học sinh hiểu và chiếm lĩnh kiến thức chứ không sử dụng trong suốt quá trình dạy đọc mà cần phải xen kẽ những phương pháp khác để bài dạy đạt kết quả cao và học sinh không chán.
Tác dụng của phương pháp đàm thoại:
Phương pháp đàm thoại là tạo cho học sinh phát triển giao tiếp (giao tiếp giữa cô và trò). Khi sử dụng phương pháp này ngoài việc có tác dụng giúp học sinh tiếp thu kiến thức còn có tác dụng kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh. Giáo viên kịp thời điều chỉnh nội dung và phương pháp dạy học của mình cho phù hợp với đối tượng học sinh.
  II.3.3. Phương pháp luyện tập:
  a. Phương pháp luyện tập:
    Đây là phương pháp chủ yếu, thường xuyên sử dụng khi dạy học, học phân môn Tập đọc. Với phương pháp này, tôi hướng dẫn học sinh vận dụng thực hành tốt. Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh rèn kỹ năng, kỹ xảo khi luyện đọc. Tôi luông hướng dẫn học sinh luyện tập có ý thức và kiểm tra ngay kết quả luyện tập tại lớp cụ thể.
  b. Các biện pháp luyện tập:
  b.1. Luyện đọc đúng:
     Là đọc thành tiếng, yêu cầu đọc trôi chảy, lưu loát và rèn cho học sinh biết ngừng nghỉ đúng chỗ, biết phân biệt câu thơ, dòng thơ.
     Ngoài việc rèn cho học sinh biết ngắt nghỉ đúng dấu chấm, dấu phẩy. Tôi còn hướng dẫn học sinh biết ngắt hơi sau các dấu hai chấm, dấu chấm than, chấm lửng… (đối với bài văn xuôi).
  b.2 Luyện đọc thầm:
    Đối với học sinh lớp 1, đọc thầm khó hơn đọc thành tiếng, do các em chưa có ý thức tập trung cao để theo dõi bài đọc. Thường thì các em bỏ sót tiếng, dòng trong bài đọc. Tôi đã theo dõi khi các em đọc thầm, một số em chưa có ý thức tự giác khi làm việc này. Để hướng dẫn học sinh đọc thầm tốt, tôi yêu cầu các em làm theo hướng dẫn của tôi.
   - Yêu cầu tất cả học sinh theo dõi vào bài, đọc phải đầy đủ các tiếng trong câu (lưu ý không đọc lướt).
   - Yêu cầu học sinh đọc thầm bằng mắt, học sinh tập bỏ dần thói quen đọc thành tiếng lầm rầm (phát ra tiếng nhẩm nhỏ).
   - Giao câu hỏi gắn với nội dung đoạn, bài đọc.
   - Khi đọc cố gắng không dùng ngón tay hay que tính để chỉ vào từng chữ, dòng trong sách (trừ trường hợp với những em quá yếu).
   - Kiểm tra đọc thầm của các em, tôi đã tiến hành kiểm tra bằng cách yêu cầu các em trả lời câu hỏi nội dung của đoạn vừa đọc đến đâu.
    Nếu học sinh đọc thầm tốt thì các em đã hiểu được nội dung của đoạn đó, các em sẽ trả lời câu hỏi được tốt hơn.
    Đối với học sinh yếu, tôi thường xuyên quan tâm hơn và giúp đỡ các em bằng cách:
   - Lưu ý hơn trong giờ Tập đọc.
   - Thường xuyên uốn nắn việc phát âm sai.
   - Giúp học sinh đọc dứt khoát hơn từng cụm từ trong câu ngắn. Với câu dài, tôi hướng dẫn học sinh vạch nhịp bằng bút chì vào sách giáo khoa, để các em ngắt nghỉ hơi đúng chỗ.
   - Đề ra yêu cầu đọc ở nhà, có như vậy mới buộc học sinh đọc lại những từ, cụm từ, câu chưa trôi chảy để hôm sau tôi kiểm tra xem các em đọc đã đạt yêu cầu chưa.
   - Bố trí những em khá ngồi gần để kèm cặp.
     b.3. Hình htức luyện tập ở nhà:
    Hình thức này cũng góp phần tích cực giúp học sinh đọc lại những từ, cụm từ, rèn luyện kỹ năng đọc, tôi thường áp dụng và thực hiện như sau:
   - Với học sinh yếu: Luyện đọc từ, cụm từ, câu, cả bài.
   - Với học sinh trung bình, khá: Luyện đọc trôi chảy, lưu loát cả bài.
   - Với học sinh giỏi: Đọc diễn cảm toàn bài.
   Để đạt được mục đích trên, tôi hướng dẫn trước ở trên lớp thật tỉ mỉ, cụ thể để học sinh về nhà luyện đọc.
   Yêu cầu kiểm tra kết quả luyện đọc theo từng cặp.
   Ngoài ra cần kết hợp giữa gia đình và giáo viên chủ nhiệm để hỗ trợ kèm cặp những em còn đọc yếu.
   b.4. Tổ chức trò chơi Tiếng Việt:
    Có nhiều hình thức trò chơi  Tiếng Việt, tuỳ từng bài đọc để áp dụng trò chơi sao cho phù hợp. Trong khâu rèn kỹ năng đọc nói riêng và dạy bài Tập đọc nói chung, tôi thường áp dụng các trò chơi Tiếng Việt như:
  • Thi đọc đúng các từ, cụm từ có các phụ âm hay mắc lỗi khi đọc.
  • Thi đọc nối tiếp đoạn văn, câu thơ, khổ thơ trong bài đọc thuộc lòng.
  • Thi tìm các từ còn thiếu trong đoạn văn, thơ.
  • Đọc một câu biết cả đoạn.
     Khi chơi trò chơi, tất cả các đối tượng học sinh trong lớp đề được chơi, kể cả những học sinh yếu cũng được chọn tham gia để các em cũng được hoà nhập và giúp các em học tập có ý thức hơn.
II.3.4. Dạy thử nghiệm:
     Qua quá trình điều tra, nghiên cứu tìm ra những tồn tại cũng như nguyên nhân dẫn đến tồn tại. Đề ra những biện pháp rèn kỹ năng đọc đúng cho học sinh lớp 1, tôi đã tiến hành dạy thử nghiệm 2 tiết Tập đọc ở lớp 1 để chứng minh cho những biện pháp đề xuất của mình, tạo kết quả cho giờ học.
 
Tập đọc lớp 1: BÀN TAY MẸ
 
A. Mục đích, yêu cầu:
  1. Học sinh đọc trơn cả bài. Chú ý phát âm đúng các từ ngữ: yêu nhất, nấu cơm, rám nắng… Biết nghỉ hơi khi gặp dấu chấm.
  2. Ôn các vần an, at; tìm được các tiếng có vần an, vần at.
  3. - H–ểu các từ ngữ trong bài: rám nắng, xương xương.
      - Nói lại được tình cảm và ý nghĩ của bạn nhỏ khi nhìn đôi bàn tay mẹ. Hiểu tấm lòng yêu quý, biết ơn m ẹ của bạn.
      - Trả lời được các câu hỏi theo tranh nói về sự chăm sóc của bố mẹ với em.
B. Đồ dùng dạy học:
     - Tranh minh hoạ bài đọc.
     - Bộ chữ.
C. Các hoạt động dạy học:
Hoạt động của giáo viên
Hoạt động của học sinh
I. Kiểm tra bài cũ: (5’)
- Đọc bài “Cái nhãn vở” trong Sgk và trả lời câu
 hỏi 1, 2 trong Sgk.
- Gv nhận xét, cho điểm.
II. Bài mới:
1. Giới thiệu bài: (1’) Gv nêu.
2. Hướng dẫn hs luyện đọc: (20’)
a. Gv đọc mẫu bài văn.
b. Hs luyện đọc:
*Luyện đọc tiếng, từ ngữ:
- Luyện đọc các tiếng, từ khó: yêu nhất, nấu
cơm, rám nắng, xương xương.
- Phân tích tiếng: yêu, nắng, xương.
- Gv giải nghĩa từ: rám nắng, xương xương.
* Luyện đọc câu:
- Đọc từng câu trong bài.
- Đọc nối tiếp câu trong bài.
- Luyện đọc câu: Đi làm về, mẹ lại đi chợ, …, giặt
một chậu tã lót đầy.
* Luyện đọc đoạn bài:
- Luyện đọc nối tiếp đoạn.
- Thi đọc trước lớp cả bài.
- Nhận xét, tính điểm thi đua.
- Đọc đồng thanh toàn bài.
3. Ôn các vần an, at: (12’)
a. Tìm tiếng trong bài có vần an:
- Yêu cầu hs tìm nhanh.
- Đọc từ tìm được: bàn tay.
- Phân tích tiếng bàn.
b. Tìm tiếng ngoài bài có vần an, vần at:
- Đọc mẫu trong Sgk.
- Gv tổ chức cho hs thi tìm đúng, nhanh những
tiếng, từ có vần an, vần at.
Tiết 2
4. Luyện đọc kết hợp tìm hiểu bài và luyện nói:
a. Tìm hiểu bài: (20’)
- Đọc câu hỏi 1.
- Đọc nối tiếp 2 đoạn đầu.
+ Bàn tay mẹ làm những việc gì cho chị em Bình?
- Đọc yêu cầu 2.
- Luyện đọc câu văn diễn tả tình cảm của Bình với
đôi bàn tay mẹ.
- Thi đọc toàn bài.
b. Luyện nói: (10’)
- Nhìn tranh 1 thực hành hỏi đáp theo mẫu.
- Thực hành hỏi đáp theo các tranh 2, 3, 4.
- Yêu cầu hs tự hỏi đáp.
5. Củng cố, dặn dò: (5’)
- Đọc lại toàn bài.
- Gv nhận xét giờ học.
- Dặn hs về nhà luyện đọc bài, chuẩn bị bài “cái
Bống”.
 
- 2 Hs đọc và trả lời.
 
 
 
 
 
- Hs theo dõi.
 
 
- Vài Hs đọc.
 
 
- Vài hs nêu.
 
- Hs đọc nhẩm.
- Mỗi hs đọc 1 câu nối tiếp nhau.
- Vài hs đọc.
 
 
- Vài hs đọc
- Hs đọc thi nhóm 3 hs.
 
- Hs đọc cá nhân, tập thể.
 
 
- Hs tìm và nêu
- Vài hs đọc.
- 1 vài hs nêu.
 
 
- Hs thi đua theo tổ.
 
 
 
 
- 1 hs đọc.
- 2 hs đọc.
- 1 vài hs nêu.
- 1 hs đọc.
- Vài hs đọc.
 
- 3 hs đại diện 3 tổ đọc.
 
- 2 hs thực hiện.
- 3 cặp hs thực hiện.
- Vài cặp hs thực hành.
 
- 1 hs đọc.
 
II.3.5. Kết quả thực nghiệm:
Qua quá trình áp dụng đề tài vào dạy thực nghiệm đã thu được kết quả như sau:
Lớp 1 A: Sĩ số 27
TSHS/27
Đọc ngọng
Đọc sai p/âm
Đọc sai dấu
Đọc đúng
Đọc diễn cảm
TS
%
TS
%
TS
%
TS
%
TS
%
Khảo sát cuối kỳ I
2
7,5
6
22
1
3.7
17
66,8
0
0
Khảo sát cả năm
0
0
2
7,5
0
0
25
92.5
0
0
 
 
 
 
 
 
 
III. PHẦN KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ:
      Ngôn ngữ là một công cụ giao tiếp đặc biệt. Con người cũng như các động vật khác thường giao tiếp với nhau bằng tín hiệu. Trong đó có tín hiệu ngôn ngữ được thể hiện ở dạng nói và viết.
      Để mỗi tiết học mang lại hiệu quả cao, người giáo viên phải đầu tư thời gian một cách hợp lý nhằm lựa chọn nội dung và phương pháp dạy học cho kỹ càng, phù hợp. Đồng thời người giáo viên phải thực sự năng động, sáng tạo, luông trăn trở tìm tòi suy nghĩ, hình thức tổ chức dạy học, ví dụ: có nhiều tiết dạy giáo án điện tử để gây hứng thú trong học tập cho học sinh; sao cho mọi học sinh đều có niềm say mê, hứng thú trong học tập.
      Trong quá trình dạy - học Tập đọc phải nắm vững đặc điểm tâm sinh lý của học sinh. học sinh lớp 1, các em thích được động viên, khuyến khích, thích được chiều chuộng, gần gũi. Để thực hiện mỗi tiết dạy, giáo viên cần hiểu thật rõ, nắm vững nội dung, yêu cầu của từng tiết, toàn bài phải đọc giọng điệu chung như thế nào, tốc độ, cường độ, chỗ nào phải nhấn giọng, hạ giọng, từ nào, câu nào học sinh hay đọc sai, đọc lẫn… để giờ dạy có hiệu quả.
     Nắm chắc đặc trưng của phân môn Tập đọc 1, trong giờ học, tôi phân bố thời gian theo trình tự giáo án nhưng chú trọng các yếu tố.
      Đọc mẫu của giáo viên: Đọc mẫu nhằm giới thiệu, tạo hứng thú và tâm thế học tập.
      Nếu giáo viên đọc mẫu cho học sinh tốt cũng đã dạy cho học sinh được rất nhiều. Đọc câu, đoạn nhằm minh họa, hướng dẫn, gợi ý giúp học sinh tự tìm cách đọc. 
      Trong chương trình Tiếng Việt mới, phân môn Tập đọc có nhiệm vụ rõ ràng hơn, đó là rèn luyện cho học sinh các kỹ năng đọc, nghe và nói. Đọc là quá trình tiếp nhận thông tin; do đó các kỹ năng đọc, nghe và nói có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Sự tạo thành các kỹ năng này giúp học sinh đạt kết quả cao trong giao tiếp. Sách giáo khoa Tiếng Việt mới thể hiện rõ quan điểm giao tiếp qua việc lựa chọn hệ thống ngữ điệu cho dạy học.
      Qua quá trình tìm hiểu công việc học tập của học sinh và công tác giảng dạy của giáo viên đối với phân môn Tập đọc trong trường tiểu học, đồng thời thông qua chất lượng kiểm tra cuối năm, tôi thấy lớp 1A có nhiều tiến bộ. Song kết quả đạt được chưa hẳn là cao, bởi sự tìm tòi sáng tạo trong chuyên môn còn hạn chế. Vì vậy kết quả đạt được chưa được như mong muốn. Dạy Tập đọc quả là một vấn đề không đơn giản chút nào, nên muốn có kết quả cao thì cả thầy lẫn trò đều phải cố gắng, phải kiên trì trong quá trình rèn đọc. Muốn vậy giáo viên phải luôn luôn cố gắng đọc đúng, đọc chuẩn, diễn cảm.
      Ngoài ra còn phải nêu cao tinh thần trách nhiệm của người giáo viên, luôn cải tiến phương pháp soạn giảng, sửa lỗi kịp thời cho từng học sinh.
      Qua thực tế, tôi thấy mình cần cố gắng rèn luyện, học tập nghiên cứu tài liệu, sách báo, học hỏi những đồng nghiệp giàu kinh nghiệm giảng dạy.
      Tôi tự rút ra bài học cho mình: Muốn đạt được mục đích mà mình mong muốn thì bản thân phải có niềm tin, niềm say mê thực sự, luôn kiên trì, nhẫn nại, rèn luyện không ngừng. Chính niềm say mê ấy sẽ giúp ta có them sức mạnh to lớn, cuốn hút ta đi vào tìm tòi sáng tạo.
       Do điều kiện khả năng có hạn, đề tài còn nhiều thiếu sót, có những vấn đề chưa thể đề cập đến. Mặc dù bản thân tôi đẫ hết sức cố gắng; rất mong được sự giúp đỡ, góp ý,bổ xung của đồng nghiệp, đặc biệt tổ chuyên môn Phòng giáo dục - đào tạo huyện Đông Triều đã giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài này.
 
An Sinh, ngày 15 tháng 5 năm 2010
                                                                       Người viết
 
 
 
                                                                            Nguyễn Thị Thậm
 
 
 
 
 
IV. TÀI LIỆU THAM KHẢO - PHỤ LỤC:
                                                                                            Trang
I. Phần mở đầu                                                                                                 1
I.1. Lý do chọn đề tài                                                                                         1
I.2. Mục đích nghiên cứu                                                                                   4
I.3. Thời gian, địa điểm                                                                                      4
I.4. Đóng góp mới về mặt lý luận, về mặt thực tiễn                                           6
II. Phần nội dung                                                                                              8
II.1. Chương I: Tổng quan                                                                                  8
II.2. Chương II: Nội dung vấn đề nghiên cứu                                                    8
II.2.1. Các thành tựu đã đạt được trong thời gian qua                                        8
II.2.2. Nghiên cứu chương trình sách giáo khoa                                                9
II.2.3. Những vấn đề thực tiễn                                                                           11
II.3.Chương III: Phương pháp nghiên cứu - kết quả nghiên cứu                       24
II.3.1. Phương pháp trực quan                                                                           15
II.3.2. Phương pháp đàm thoại                                                                           17
II.3.3. Phương pháp luyện tập                                                                            18
II.3.4. Dạy thử nghiệm                                                                                       20     
II.3.5. Kết quả thực nghiệm                                                                                22
III. Phần kết luận - kiến nghị                                                                          23
 
 
 
 
 
 
 
 
V. NHẬN XÉT CỦA BGH NHÀ TRƯỜNG, PHÒNG GD&ĐT:
……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………….
……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………….
     
 
 
 
 
 
Sáng kiến kinh nghiệm

Rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 2

Rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 2

Tập đọc là một phân môn mang tính tổng hợp bởi bên cạnh việc dạy đọc ta cũng trau dồi kiến thức tiếng việt, kiến thức về văn học đời sống, giáo dục tình cảm, thẩm mĩ cho học sinh, phân môn tập đọc góp phần hình thành và phát triển nhân cách con người mới .

I. PHẦN MỞ ĐẦU
I.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nền giáo dục Việt Nam đó trải qua  nhiều năm đổi mới và thu được nhiều thành quả tốt đẹp. Tiếp tục phát huy những kết quả đó đạt được, từng bước thực hiện các mục tiêu của xã hội. Năm học 2009-2010 toàn ngành giáo dục cùng đẩy mạnh phong trào thi đua: Dạy tốt- học tốt, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện đi lên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Ngày nay, đất nước đang trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nên rất cần những con người có tri thức, có khoa học kỹ thuật. Trước yêu cầu của sự phát triển kinh tế xó hội đòi hỏi nền giáo dục phải thay đổi mục tiêu đào tạo, cải tiến lại nội dung và phương pháp dạy học. Đó là việc làm rất bức xúc và cần thiết hiện nay.
Chính vì vậy, chất lượng dạy và học trong nhà trường đang là vấn đề được các nhà giáo dục hết sức quan tâm. Đây là một trong những việc làm quan trọng, góp phần đào tạo nhân tài cho đất nước. Vì thế, biết bao thầy cụ giáo ngày đêm miệt mài  nghiên cứu để có những sáng kiến mới, những kinh nghiệm hay, nhằm cải tiến phương pháp dạy học cho phù hợp với nhận  thức của học sinh.
Trong giáo dục phổ thông nói chung và ở trường Tiểu học nói riêng, môn học Tiếng Việt là một môn quan trọng, chiếm vị trí chủ yếu trong chương trình. Môn này có đặc trưng cơ bản là: Nó vừa là môn học cung cấp cho học sinh một khối lượng kiến thức cơ bản nhằm đáp ứng được những mục tiêu, nhiệm vụ của từng bài học, vừa là công cụ để học tập tất cả các môn học khác. Trẻ em muốn nắm được kỹ năng học tập, trước hết cần nghiên cứu tiếng mẹ đẻ chìa khóa của nhận thức, của sự phát triển trí tuệ đúng đắn, nó cần thiết cho tất cả các em khi bước vào cuộc sống. Ở nước ta, môn Tiếng Việt có vai trò quan trọng, là một môn học chính , trong đó không thể không kể đến môn Tập đọc.
Dạy môn Tập đọc trong các trường Tiểu học đang là một vấn đề được các trường, các nhà nghiên cứu và toàn xã hội quan tâm. Biết đọc là có thêm một công cụ mới để học tập, để giao tiếp, để nắm bắt được mọi thông tin diễn ra hàng ngày trong xã hội. Thông qua việc đọc các tác phẩm văn chương, con người không những được thức tỉnh về nhận thức mà cũn rung động về tình cảm, nảy nở những ước mơ tốt đẹp, được khơi dậy năng lực hành động, sức mạnh cũng như được bồi dưỡng tâm hồn. Tập đọc là một phân môn thuộc bộ môn Tiếng Việt bậc Tiểu học, này giữ vai trò rất quan trọng, trước hết giúp học sinh rèn luyện các kỹ năng đọc (đọc đúng, diễn cảm) một văn bản. .
Chính vì vậy, dạy Tập đọc có ý nghĩa to lớn ở Tiểu học, nó trở thành một đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối với mỗi người đi học. Học sinh đọc tốt, đọc một cách có ý thức sẽ giúp các em hiểu biết nhiều hơn, bồi dưỡng các em lòng yêu cái thiện, cái đẹp, dạy các em biết suy nghĩ một cách lôgic cũng như có hình ảnh, những kỹ năng này các em sẽ sử dụng suốt đời. Như vậy dạy đọc có ý nghĩa vô cùng quan trọng, bao gồm các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển.
Xuất phát từ quan điểm dạy tập đọc kết hợp dạy ngữ và rèn đọc cho các em. Tập đọc là một phân môn mang tính tổng hợp bởi bên cạnh việc dạy đọc ta cũng trau dồi kiến thức tiếng việt, kiến thức về văn học đời sống, giáo dục tình cảm, thẩm mĩ cho học sinh, phân môn tập đọc góp phần hình thành và phát triển nhân cách con người mới .
Hiện nay ở nhà trường tiểu học việc rèn kỹ năng đọc đạt kết quả chưa cao, có thể có nhiều nguyên nhân, song nguyên nhân lớn nhất là phương pháp rèn đọc chưa được coi trọng, thực tế nếu không có kỹ năng đọc tốt thì học sinh không có điền kiện học các môn khác, không thể tiếp thu nền văn minh. Chính vì vậy, việc dạy đọc cho học sinh có ý nghĩa quan trọng. Thông qua môn học này góp phần đắc lực phục vụ mục tiêu đào tạo con người, con người phát triển toàn diện, có đủ đức, đủ tài tiếp cận nền khoa học kỹ thuật tiên tiến để đưa nước nhà tiến nhanh, tiến xa hơn nữa.
Đối với học sinh lớp 2 các em bắt đầu bước sang giai đoạn đọc nhanh đọc đúng đọc lưu loát, trôi chảy với các em học sinh lớp 3,4,5, cũng yêu cầu cao hơn đó là đọc diễn cảm, đọc phải thể hiện được nội dung, tình cảm của bài để từ đó các em bộc lộ tình cảm của mình qua mỗi bài đọc. Mỗi chúng ta phải làm thế nào? để thông qua môn tập đọc giúp học sinh không những đạt được vấn đề đọc thạo, mà phải hiểu nội dung của văn bản.Vậy người giáo viên phải tìm phương pháp tiếp cận làm sao? cho học sinh có cảm tình với bài tập đọc, thúc đẩy học sinh biểu lộ tình cảm thái độ tự nhiên thông qua giọng đọc. Trong thực tế hiện  nay để thực hiện được vấn đề này  người giáo viên phải thay đổi cách truyền thụ để các em có thể nắm bắt được tri thức, việc rèn đọc cho học sinh là hết sức cần thiết nhưng đọc như thế nào để người nghe hiểu  được nguyên vẹn nội dung cũng như giá trị nghệ thuật của văn bản, nôi cuốn được người nghe, cảm thụ được cái hay, cái đẹp của văn bản. Học sinh không những đọc được nội dung văn bản, mà cũng phải đọc hay, đọc diễn cảm, đây là mục  tiêu mà các thày cô giáo dạy lớp 2 cần phải rèn và là đích để đạt tới .
Trong thực tế hiện nay, dạy tiếng việt ở bậc tiểu học nói chung và dạy phân môn tập đọc ở lớp 2 nói riêng tôi nhận thấy đa số các em đó đọc to rừ ràng song cũng một số em đọc chưa lưu loát, chưa biết ngắt nghỉ đúng dấu chấm, dấu phẩy, nhiều em phát âm chưa rừ phụ âm đầu l; n ; s; x; tr; ch đặc biệt là âm: l.n  và kỹ thuật đọc đa số các em đọc chưa thể hiện được tình cảm nội dung văn bản, các em chưa biết nhấn giọng ở từ ngữ gợi tả,  những từ ngữ trọng tâm từ chìa khoá, trong khi sắm vai, đọc đối thoại các em cũng lúng túng, các em cũng thiếu tự tin trong việc thể hiện giọng đọc của mình ,một số em học sinh đọc yếu  các em cũng chưa xác định được giới hạn của những câu đối thoại, khi đọc gặp phải đấu ? ; ! thường chưa biết cách thể hiện giọng đọc như thế nào cho phù hợp. Để khắc phục những tồn tại trên nhà trường đó tổ chức cỏc cuộc thi đọc diễn cảm, và thi kể chuyện. 
Vì những lý do trên và do những yêu cầu của giáo dục Tiểu học tôi xin trình bày một vài quan điểm của bản thân về đổi mới phương pháp dạy học.” rèn kỹ năng đọc cho học sinh lớp 2”. thông qua môn tập đọc của trường tiểu học An Sinh A. 
I.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Khi tôi nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích:
+ Tìm ra phương pháp và hướng đi, giúp học sinh đọc tốt hơn, qua đó từng bước nâng cao năng lực đọc đúng, đọc hay, đọc diễn cảm của mỗi học sinh.
+ Tìm hiểu yờu cầu nhiệm vụ và thực trạng dạy học của phân môn Tập đọc ở lớp 2.
I.3. THỜI GIAN ĐỊA ĐIỂM
Tôi nghiên cứu đề tài này từ tháng 9/2009 đến tháng 5 năm 2010 Tại trường tiểu học An Sinh A
I.4. ĐÓNG GÓP MỚI VỀ MẶT LÝ LUẬN VỀ MẶT THỰC TIỄN
I.4.1. NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN
         Đối với phân môn tập đọc muốn học tốt học sinh phải có kĩ năng đọc, và hiểu được nội dung bài, giá trị nghệ thuật của từng bài từ đó học sinh biết cách thể hiện cảm xúc của giọng đọc một cách đúng . Khi đó được trang bị kỹ năng đọc, học sinh sẽ ham thích tìm hiểu, biết bộc lộ tình cảm một cách đúng mức trong cuộc sống, ngoài ra để học tốt các em cần phải có vốn ngôn ngữ phong phú, đa dạng. Có như vậy các em mới có đủ điều kiện để học tốt các môn khác. Dạy tốt phân môn tập đọc, cũng giúp học sinh có vốn ngôn ngữ chuẩn mực để tiếp thu tri thức khoa học và khi giao tiếp các em sẽ tự tin hơn.  Học tốt môn tập đọc, sẽ tạo tiền đề cho các em bước vào lĩnh vực khoa học một cách vững chắc. 
Khi nghiên cứu đề tài này tôi nghiên cứu và tham khảo sách giáo khoa lớp 2, sách giáo viên lớp 2, sách tiếng việt nâng cao lớp 2 và một số sách tham khảo có liên quan đến phân môn tiếng việt khối 2.
 I.4.2. NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN:
Nhiều năm giảng dạy và làm công tác quản lý chuyên môn dạy tiếng việt ở bậc tiểu học núi chung và dạy tập đọc ở lớp 2 nói riêng tôi nhận thấy: Khả năng tiếp thu môn học tiếng việt của các em cũng nhiều hạn chế so với các môn toán hay tự nhiên xã hội, ở phân môn tập đọc lớp 2 đa phần các em đó đọc được, song một số em đọc cũng chưa được rõ ràng, chưa biết ngắt nghỉ đúng dấu chấm, dấu phẩy, nhiều em phát âm chưa phân biệt rõ phụ âm đầu  l/n; tr/ch; s/x đặc biệt học sinh trường tôi đang công tác thì đa số các em đọc con ngọng phụ âm l/n, về kĩ thuật đọc chưa thể hiện được tình cảm, nội dung mà văn bản đề cập tới. Ví dụ như các em chưa biết nhấn giọng ở từ ngữ gợi tả, những từ ngữ trọng tâm, từ chìa khoá, trong những trường hợp sắm vai hay đối thoại các em cũng lúng túng, nhiều em cũng thiếu tự tin trong việc thể hiện giọng đọc của mình. Đối với đối tượng học sinh trung bình và yếu cỏc em chưa xác định được đâu là giới hạn những câu đối thoại của mình, với thực tế trên tôi đi sâu vào nghiên cứu vấn đề rèn kỹ năng đọc cho học sinh khối 2 với mong muốn tích lũy thêm cho bản thân những kiến thức và kinh nghiện chỉ đạo chuyên môn nhằm đạt hiệu quả cao trong việc chỉ đạo chuyên môn dạy và học.
II. NỘI DUNG
II.1 CHƯƠNG I: TỔNG QUAN
II.1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN.
Phân môn Tập đọc có vị trí rất quan trọng trong chương trình học Tiểu học nói chung. Tập đọc là bài học khởi đầu giúp học sinh chiếm lĩnh tri thức, chiếm lĩnh công cụ (năng lực đọc, nghe, nói, viết) từ đó mở rộng cánh cửa cho học sinh nắm lấy kho tàng tri thức của loài người.
Quá trình dạy học gồm 2 mặt có quan hệ mật thiết với nhau: Hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh. Người giáo viên là chủ thể của hoạt động dạy với hai chức năng truyền đạt và chỉ đạo tổ chức. Người học sinh là đối tượng (khách thể) của hoạt động dạy nhưng lại là chủ thể của hoạt động học tập với hai chức năng tiếp thu và tự chỉ đạo, tự tổ chức.
Hoạt động học tập của học sinh chỉ có thể đạt hiệu quả nếu học sinh tiến hành các hoạt động học tập một cách tích cực, chủ động, tự giác với một động cơ nhận thức sâu sắc. Bằng hoạt động học tập, mỗi học sinh tự hình thành và phát triển nhân cách của mình mà không ai có thể làm thay được.
Dạy học là con đường thuận lợi nhất, giúp học sinh trong khoảng thời gian ngắn nhất, có thể nắm được một khối lượng kiến thức cần thiết. Nó được tiến hành một cách có tổ chức có kế hoạch. Giúp học sinh phát triển một cách có hệ thống, năng lực hoạt động trí tuệ và tư duy sáng tạo. Từ đó giúp học sinh có hành động đúng đắn trong học tập.
II.1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN.
Khi tiến hành làm đề tài này tôi đã nghiên cứu sách giáo khoa phân môn tập đọc khối 2 để tìm hiểu nội dung cấu trúc của chương trình, tìm hiểu việc học của các em, tìm hiểu các tài liệu hướng dẫn của ngành, nghiên cứu rút kinh nghiệm qua từng tiết dự giờ. Nghiên cứu tài liệu có liên quan đến phân môn tiếng việt nhất là phân môn tập đọc.
Quan sát đội ngũ giáo viên thường xuyên sử dụng phương pháp gỡ? những điểm hợp lý và chưa hợp lý trong quá trình rèn đọc cho học sinh .
     Thường xuyên dự giờ của giáo viên dạy khối 2-3 để rút kinh nghiệm trong quá trình chỉ đạo, nhất là môn tập đọc.
1. Học sinh:
- Do đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh Tiểu học còn nhỏ tự giác trong học tập chưa cao, trình độ đọc còn yếu (chưa rành mạch, còn ấp úng, phát âm không chuẩn xác một số phụ âm đầu: l/n; tr/ch; s/x)
- Đọc và dùng từ địa phương: chổi/ chủi; bảo/ bẩu; ổi/ ủi; ; sổi/ sủi.
2. Giáo viên:
- Dạy sa vào giảng văn nhiều hơn là rèn đọc.
- Phần luyện đọc nhiều giáo viên cho là dễ, nhưng thực chất đây là phần khó nhất, phần trọng tâm của bài giảng. ở khâu này, giáo viên ít mắc lỗi về thao tác kỹ thuật nhưng lại không biết dạy như thế nào để phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh, chưa chú ý đến tốc độ đọc của các em theo yêu cầu về kiến thức và kỹ năng cơ bản phự hợp với từng khối lớp.
- Một hạn chế rất phổ biến ở giáo viên khi dạy Tập đọc là không phân biệt được sự khác nhau giữa tiết Tập đọc và tiết Tập đọc - học thuộc lòng. Nhiều giáo viên chỉ thấy sự khác nhau ở các lớp đầu cấp khi cho học sinh đọc đồng thanh, mà quên rằng nhiệm vụ chủ yếu của tiết Tập đọc là luyện đọc cá nhân, còn nhiệm vụ của tiết Tập đọc- học thuộc lòng là vừa phải luyện đọc vừa kết hợp rèn trí nhớ, ít chú ý đến đối tượng học sinh yếu nhiều giáo viên cố tình "bỏ quên" đối tượng này, coi như không có các em trong lớp.
- Có một số giáo viên tuổi cao, mặc dù có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy, nhưng do phương pháp dạy học truyền thống đó tiềm tàng, khả năng nắm bắt phương pháp mới cũng hạn chế. Các bước lên lớp chưa linh hoạt. Vì vậy tiết Tập đọc còn buồn tẻ, đơn điệu. Các em học vẹt. Khâu thực hành còn yếu, nhất là khâu luyện đọc, đặc biệt là rèn đọc diễn cảm cho học sinh.
II.2 CHƯƠNG II
NỘI DUNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
II.2.1 MỘT SỐ KINH NGHIỆM
Ngay từ khi lọt lòng mẹ, trẻ đó có nhu cầu được nghe lời ru của mẹ, của bà, đến lúc chập chững biết đi bé lại bi bô cất tiếng gọi những người thân thiết, tuy chưa rõ tiếng nhưng nghe thật cảm động rễ thương. Ở giai đoạn này bà và mẹ là những người thầy đầu tiên dạy dỗ bé, tiếp xúc làm quen với môi trường sống xung quanh, khi đến tuổi cắp sách đến trường, thì vấn đề giao tiếp đọc, nghe, nói, viết của bé đó trở thành nhu cầu thói quen không thể thiếu, lúc này người thầy giáo đóng vai trò quan trọng, trong việc cung cấp kiến thức và rèn luyện kĩ năng đọc, nói, nghe, viết. Góp phần vào việc phát triển nhân cách của trẻ.
Học sinh tiểu học là giai đoạn phát triển hết sức hồn nhiên đây là giai đoạn nhân cách đang hỡnh thành đối với lứa tuổi từ 6-8 tuổi khả năng chú ý kém mải chơi, thích quan sát và khám phá thế giới xung quanh, vậy khi đến trường học các em phải tuân theo nội qui, qui định của trường, của lớp.
Trong ý thức của mình các em bắt đầu nhận thức được sự vật một cách chủ động, có mục đích nhằm đặt những yêu cầu của tư duy trực quan, từ quan sát trực quan chuyển sang tư duy ngôn ngữ lôgíc, trìu tượng cách phát âm thiếu lập luận, chuyển sang ngôn ngữ có lập luận chặt chẽ. ở giai đoạn này nhận thức của các em mang nặng mầu sắc cảm tính, được củng cố và phát triển trên cơ sở nhận thức ngày càng đúng đắn hơn, chuẩn mực hơn các em đó tin vào lời giảng của các thầy cô, vào sách. Những điều kiện mà nhà trường, gia đình dạy giỗ giáo dục, học sinh tiểu học thường hiếu động dễ hưng phấn khó tập chung, hay hướng tới hoạt động cụ thể kết quả trực tiếp không thích hoạt động kéo dài, khó thấy kết quả. Nhất là kiến thức trìu tượng, ít hấp dẫn, lứa tuổi này các em hay bắt chước, các em ít hiểu tác dụng của việc mình làm, mà chỉ hiểu đơn giản là làm thầy cô và bố mẹ hài lòng.
Xuất phát từ thực tế tâm lý của trẻ, vậy chỉ có giờ dạy sinh động, trực quan, lời giảng dễ hiểu, hấp dẫn gếup trẻ tập trung cuốn hút vào bài  giảng của giáo viên.
II.2.2 NGHIÊN CỨU CHƯƠNG TRÌNH SÁCH GIÁO KHOA.
II.2.2.1 Nội dung chương trình:
Qua nghiên cứu thống kê chương trình phân môn tập đọc khối 2 cả năm học có 35 tuần mỗi tuần có 3 tiết mỗi tiết dạy 40 phút.
   Kỳ I cú 18 tuần.
   Kỳ II cú 17 tuần gồm 7 chủ điểm như sau :
-Bảo vệ tổ quốc.
- Sáng tạo.
- Nghệ thuật.
- Lễ hội.
- Thể thao.
- Ngôi nhà chung.
- Bầu trời và mặt đất.
Qua nghiên cứu chương trình môn Tiếng việt, tôi thấy phân môn tập đọc chiếm ưu thế lớn trong môn tiếng việt. Vì vậy môn này gúp phần hình thành kĩ năng nghe, đọc, nói, viết ở trường tiểu học.
 II.2.2.2 NGHIÊN CỨU SÁCH GIÁO KHOA.
Sách giáo khoa lớp 2 được in 2 tập.
Tập 1 gồm 7 chủ điểm.
Tập 2 gồm toàn bộ nội dung học kì II.
Sách giáo khoa được cấu tạo gồm 3 phần
- Phần 1:     Bài học
- Phần 2 :   Chú thích và giải nghĩa.
- Phần 3:    Câu hỏi và bài tập.
Cả 3 phần trong sách giáo khoa hệ thống câu hỏi phù hợp với tất cả đối tượng học sinh, các câu hỏi theo hướng mở, học sinh có nhiều hướng giải, các câu hỏi  từ dễ đến khó, từ cụ thể đến trìu tượng. Các bài tập được phân theo chủ điểm gần gũi với học sinh, các em được mở rộng hiểu biết về đất nước, nhân dân, xã hội Bác Hồ. Đây là một ưu điểm mà sách giáo khoa tiếng việt  2 soạn thảo.
         Ngoài ra sách giáo khoa lớp 2 cũng được đọc những câu truyện vui đem đến cho các em không khí học tập thoải mái góp phần hình thành chí thông minh và lòng nhân hậu, mang tính giáo dục cao.
II.2.2.3 NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG:
Để hoàn thành ý tưởng, đề ra các giải pháp rèn đọc cho học sinh khối 2 của trường tiểu học An Sinh A, ngay từ đầu năn học tôi đó tiến hành khảo sát chất lượng phân môn này lấy hai lớp làm trung tâm nghiên cứu đó là lớp 2A ,2B.
Tổng số học sinh: 50 em qua khảo sát chất lượng môn đọc tôi đó thu được kết quả như sau:
TSHS
Đọc ngọng
Đọc sai P/âm
Đọc sai dấu
đọc đúng
Đọc diễn cảm
 
TS
%
TS
%
TS
%
TS
%
TS
%
50
5
10%
24
48%
4
8%
9
18%
8
16%
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
II.2.2.4:  DỰ GIỜ ĐỒNG NGHIỆP.
 
TẬP ĐỌC
NGƯỜI MẸ HIỀN
I/ Kiểm tra bài cũ
2 Em đọc bài :  Cô giáo lớp em.
1 em trả lời câu hỏi:
+ Tìm từ nói lên tình cảm của học sinh đối với cô giáo?
II/Dạy bài mới.
Giới thiệu bài. Yêu cầu học sinh mở sách giáo khoa.
Giáo viên đọc mẫu bài tập đọc.
Học sinh đọc nối tiếp câu trong sách giáo khoa.
Giáo viên ghi từ dễ lẫn lên bảng:
(nén nổi, lách ra, cổng trường, toáng lên).
Giáo viên cho học sinh luyện từ dễ lẫn - đọc cá nhân - đồng thanh
Học sinh đọc nối tiếp câu lần 2
Giáo viên chia đoạn.
Cho học sinh đọc nối tiếp đoạn  lần 1.
Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc đoạn ( treo bảng phụ )
Giáo viên yêu cầu học sinh tìm chỗ ngắt nghỉ giáo viên vạch chỗ ngắt nghỉ trong đoạn văn.
Giáo viên đọc mẫu đoạn văn.
Cho học sinh đọc cá nhân nhiều lần.
Cho các nhóm đọc thầm bài tập đọc.
Thi giữa các nhóm.
1 em đọc cả bài tập đọc.
Giáo viên hỏi nội dung .
*  Học sinh đọc cá nhân đoạn 1, lớp đọc thầm và trả lời câu hỏi
? Giờ ra chơi Minh rủ Nam đi đâu?   ( Đi xem xiếc)
? Các bạn ấy định ra phố bằng cách nào ?  (Chui qua chỗ tường thủng )
Cho học sinh đọc thầm đoạn 2, 3 và trả lời câu hỏi.
? Khi Nam bị bác bảo vệ giữ lại, cô giáo đó làm gì? (Bác nhẹ tay kẻo cháu đau)
? Cô giáo làm gì khi Nam khóc? ( Cô nhẹ nhàng kéo Nam lại rồi đỡ em ngồi dậy, cô phủi đất cát lấm lem trên người em rồi đưa em về lớp.)
? Người mẹ hiền trong bài là ai? ( Là cô giáo)
? Qua câu truyện cho ta biết điều gì?
Học sinh đọc phân vai.
Giáo viên tổng kết bài.
Dặn dò về nhà.
 
NHẬN XÉT DỰ GIỜ
Ưu điểm: Đa số các em học sinh đó đọc được bài tập đọc hiểu nội dung bài và trả lời được câu hỏi phần nội dung bài.
Tồn tại : Nhiều em đọc sai phụ âm, ngắt nghỉ chưa đúng chỗ.
Giáo viên  chưa chú ý sửa cho các em, khả năng đọc diễn cảm còn yếu.
Học sinh yếu chưa được đọc nhiều và trong quá trình đọc giáo viên chưa động viên kịp thời cho các em.
II.2.2.5:  ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP
Tập đọc là phân môn chủ yếu rèn đọc cho học sinh, từ mức độ nhận biết để đọc đúng, đọc rõ ràng, đọc to, mức độ đọc cao hơn là đọc lưu loát, biết ngắt nghỉ lên xuống giọng và thể hiện thái độ tình cảm qua bài tập đọc, từ đúng học sinh hiểu nội dung của bài.
Để đạt được mục đích trên trước hết người giáo viên phải đổi mới phương pháp dạy học. Sử dụng bằng nhiều hình thức rèn đọc, trên cơ sở giúp học sinh nhận thức được việc rèn đọc trong trường tiểu học là một vấn đề rất quan trọng.
* PHƯƠNG PHÁP TRỰC QUAN:
  Phương pháp này phù hớp với tư duy, Tâm lý lứa tuổi  ở bậc tiểu học. Phương pháp trực quan là giáo viên đưa ra những bức tranh minh họa hoặc bằng vật thật cho từng bài để phục vụ trong quá trình dạy và rèn đọc cho học sinh, kết hợp đọc hiểu và  đọc diễn cảm.
+ Các hình thức trực quan.
- Giọng đọc mẫu của giáo viên. Đây  là một hình thức trực quan sinh động và có hiệu quả đáng kể, có tác dụng làm mẫu cho học sinh luyện đọc.
- Giáo viên đọc mẫu phải tốt, diễn cảm để học sinh cảm nhận được cái hay, cái đẹp của bài Tập đọc. Trong quá trình đọc mẫu giáo viên biết sử dụng các thủ pháp ngắt, nghỉ  hơi đúng chỗ, dùng ngữ điệu, nhấn giọng, hạ giọng, lên giọng… để làm nổi bật ý nghĩa và tình cảm của tác giả đó gửi gắm vào bài đọc đó. Từ đó giúp học sinh thấy sôi nổi, hào hứng tham gia vào việc tìm hiểu, khám phá bài Tập đọc hơn và học sinh có ý thức đọc diễn cảm tốt hơn.
- Dùng tranh ảnh vật thật : Đây là phương pháp có tác dụng rất lớn đến việc rèn  kĩ năng đọc cho học sinh lưu ý khi sử dụng tranh ảnh bức vẽ đó phải to đẹp đảm bảo về mặt mĩ quan và cú tỏc dụng giáo dục.
 Ví dụ: Bài Sông Hương tập đọc lớp 2 tôi phóng to tranh vẽ “Sông Hương” trong sách giáo khoa có đủ màu sắc như nội dung bài để các em nhìn tận mắt các màu xanh chỉ sự khác nhau của phong cảnh “Sông Hương” như xanh thẳm của da trời, màu xanh biếc của lá cây, màu xanh non của những bãi ngô, thảm cỏ in trên mặt nước. Khi đọc tôi yêu cầu học sinh đọc nhấn mạnh ở các từ chỉ màu sắc, học sinh nhớ từ cần nhấn mạnh. Sử dụng phương pháp này giúp học sinh có kỹ năng đọc và tiếp thu bài tốt, giúp học sinh dễ hiểu bài hơn và gây hứng thú cho học sinh khi đọc.
- Luyện đọc từ khó:
Khi hướng dẫn học sinh phát âm giáo viên phân tích cho các em thấy được sự khác biệt giữa cách phát âm đúng và cách phát âm sai giữa các phụ âm dễ lẫn.
Đối với học sinh tiểu học tôi phải hướng dẫn học sinh thật tỉ mỉ, cụ thể có như vậy thỡ cỏc em mới ỏp dụng đọc thực hành tốt được. Hệ thống cách phát âm như răng, lưỡi (bộ máy phát âm ) Khi phát âm nó như thế nào? giáo viên phải làm mẫu trực tiếp cho học sinh quan sát. Ngoài hình thức trên tôi còn ghi các từ khó luyện đọc bằng phấn màu lên bảng (bảng phụ ). Tôi chỉ dùng phấn màu ghi các phụ âm, vần khó làm nổi bật các phụ âm, vần  khó trong các từ luyện đọc để các em được nhìn bằng mắt, tập phát âm bằng miệng, được nghe và có thể viết  bằng tay vào bảng con, có như vậy các em sẽ nhớ lâu và đọc đúng. Học sinh yếu đọc sai phụ âm, sai vần cần luyện nhiều và yêu cầu học sinh phân tích từ có tiếng có vần mà các em hay đọc sai.
- Luyện đọc câu - Đoạn - Bài .
Kết hợp với việc đọc phát âm đúng tiếng từ phụ âm đầu tôi còn rèn cho học sinh biết ngắt nghỉ đúng dấu chấm, dấu phẩy đọc, lưu loát. Đây là yêu cầu trọng tâm của học sinh lớp 2. Khi học sinh đọc giáo viên phải theo dõi tững chữ không để cho các em đọc kéo dài ê-a, đối với học sinh yếu phần luyện đọc chưa đạt yêu cầu các em dùng bút chỡ đánh dấu vào sách giáo khoa để dọc cho đúng. Trong các giờ tập đọc tôi chép đoạn văn hoặc đoạn thơ dài khó đọc vào bảng phụ để hướng dẫn học sinh cụ thể từng câu, từng  đoạn cách đọc như thế nào? nhấn giọng ở từ nào?
- Đọc thầm của học sinh.
           Đây là việc làm quan trọng để hình thành và phát triển kỹ năng, kỹ xảo đọc thầm và nó luôn theo ta trong suốt cuộc đời. Đọc thầm giúp các em chuẩn bị tốt cho khâu đọc thành tiếng, tìm hiểu bài và nằm bắt nội dung bài học tốt hơn. Vi vậy, chúng ta không nên bỏ qua bước này.
          - Đối với học sinh lớp 2, đọc thầm khó hơn đọc thành tiếng do các em chưa có sức tập chung cao để theo dõi bài đọc. Thường các em dễ bị sót chữ, bỏ dòng.
          - Để hướng dẫn học sinh đọc thầm đạt kết quả, khi dạy tôi yêu cầu học sinh tập chung vào bài, đọc thầm kết hợp với việc tham gia đặt câu hỏi nhận biết nhiệm vụ học tập hoặc kiểm tra đọc thầm bằng cách  hỏi học sinh đó đọc đến đâu và định hướng nội dung cần tìm. Có như vậy các em mới chú ý và tập chung trong khi đọc thầm và kích thích tinh thần học tập của học sinh.
          - Học sinh đọc thầm có thể dưới nhiều hỡnh thức: Cả lớp đọc thầm, đọc thầm theo bạn (học sinh đọc cá nhân) hoặc theo cô (đọc mẫu) và giáo viên đưa ra những định hướng sau:
+ Tự phát hiện tiếng, từ phải tìm dễ lẫn?
+ Tìm những từ cần nhấn giọng, hạ giọng, lên giọng, chỗ ngắt, nghỉ hơi?
+ Bài văn, bài thơ nói về ai?
+ Trong bài có những nhân vật nào? Ai đang trò chuyện?
+ Phát hiện giọng đọc của đoạn, bài, từng nhân vật?
 
* Phương pháp đàm thoại :
  Phương pháp này phù hợp với tâm lí trẻ nhỏ các em thích được hoạt động, thực hiện trên cơ sở trao đổi câu hỏi, phục vụ cho nội dung bài . đây chính là thầy giáo dẫn dắt học sinh tìm hiểu, khám phá khai thác những nội dung để chiếm lĩnh kiến thức. Ngược lại trò có thể hỏi những thắc mắc để giáo viên hướng dẫn và giải đáp.
 Các hình thức đàm thoại : Rèn kỹ năng đọc hiểu cho học sinh tôi thường chuẩn bị trước câu hỏi sao cho phù hợp với học sinh, muốn cho học sinh hiểu nội dung trước hết học sinh phải có kỹ năng đọc đó là, đọc đúng, đọc lưu loát, trôi chảy, có đọc thông văn bản thì các em mới hiểu nội dung bài và hiểu giá tri nghệ thuật của bài,
dẫn đến sự cảm thụ tốt và đọc diễn cảm tốt. Để đạt những yêu cầu đó tôi thường đưa ra những câu hỏi cần sử dụng đúng lúc, đúng chỗ phù hợp với từng bài đọc.
Rèn đọc hiểu cho học sinh : kết hợp với việc rèn đọc đúng cầu rèn đọc hiểu cho học sinh đọc hiểu ở đây có thể là từ khóa, từ trọng tâm câu, đoạn, bài.
* Tác dụng của phương pháp đàm thoại : Tạo cho học sinh phát triển giao tiếp khi sử dụng phương pháp này ngoài việc có tác dụng giúp học sinh tiếp thu kiến thức,  còn có tác dụng kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh. Giáo viên kịp thời điều chỉnh nội dung và phương pháp dạy học của mình cho phù hợp với đối tượng học sinh.
 
* Phương pháp luyện tập :
Đây là phương pháp chủ yếu, thường xuyên sử dụng khi dạy học phân mộn tập đọc, đối với phương pháp này tôi hướng dẫn học sinh  vận dụng thực hành tốt. Tôi luôn hướng dẫn học sinh luyện tập có ý thức và kiểm tra ngay kết quả luyện tập tại lớp.
Luyện đọc đúng là đọc thành tiếng đọc trôi chảy,  lưu loát và rèn cho học sinh biết ngắt nghỉ đúng chỗ, biết phân biệt câu thơ, dòng thơ.
 Hình thức luyện tập ở nhà : Hình thức này giúp học sinh rèn luyện kỹ năng đọc. Với học sinh yếu cho học sinh luyện đọc từ, cụm từ. Học sinh trung bình, khá luyện đọc trôi chảy lưu loát cả bài. Học sinh giỏi đọc điễn cảm cả bài. Có kế hoạch giao bài cụ thể cho từng em và kiểm tra theo yêu cầu để giao.
Dạy thử nghiệm :
Qua quá trình nghiên cứu điều tra tìm ra những tồn tại cũng như nguyên nhân cần khắc phục tôi đã tiến hành dạy thử nghiệm hai  tiết tập đọc ở lớp 2A, 2B  như sau.
TẬP ĐỌC
 
CHIM RỪNG TÂY NGUYÊN
I. Mục tiêu .
- Đọc lưu loát được cả bài, đọc đúng các từ khó.dễ lẫn.
-  Nghỉ hơi đúng sau dấu chấm, dấu phẩy, giữa các cum từ.
Giọng đọc khi êm ả, khi vui, khi sảng khoái biết nhấn giọng ở từ ngữ gợi tả.  
II. Đồ dùng:
        Tranh minh họa sách giáo khoa, vài búp hoa ngọc lan.
      - một số tranh về loài chim khác.
III / Các hoạt động dạy học.
A. Kiểm tra bài cũ:
Kiểm tra 2 em đọc bài cũ:
Trả lời câu hỏi giáo viên nhận xét cho điểm.
B Dạy bài mới
- Giới thiệu bài : Giáo viên treo tranh minh họa giới thiệu bài.
- Giáo viên đọc mẫu cả bài.
Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc.
Cho học sinh đọc câu nối tiếp theo hàng dọc.
Giáo viên ghi từ dễ lẫn lên bảng cho học sinh luyện .
( mặt nước, Y- rơ- pao, ríu rít, lượn, nhào lộn,trắng muốt )
Cho học sinh luyện đọc từ dễ lẫn. Kết hợp giải nghĩa từ khó từ trong chú giải.
(Cá nhân đọc – cả lớp đọc đồng thanh )
* Luyện đọc đoạn
Giáo viên  chia đoạn (2đoạn )
Từ đầu đến lần xuống đoạn một
Đoạn 2: Còn lại .
Cho học sinh đọc nối tiếp đoạn trong bài ( Đọc theo hàng ngang )
Giáo viên  treo bảng phụ đó viết sẵn đoạn văn dài trong đoạn 2 lên bảng và hướng dẫn học sinh đọc .
- Giáo viên  đọc mẫu . Yêu cầu học sinh đọc và phát hiện ra chỗ ngắt, nghỉ của đoạn văn, từ cần nhấn giọng , giáo viên dùng phấn khác màu vạch chỗ ngắt trong đoạn văn và từ cần nhấn giọng  .
Cho học sinh đọc nhiều lần cá nhân, đồng thanh theo tổ.
*Tìm hiểu bài :
Cho học sinh đọc thầm đoạn 1 và trả lời câu ?
?Hồ Y- rơ- pao đẹp như thế nào?.( mặt hồ rộng, bầu trời trong xanh, măt hồ xanh, rộng mênh mông)
? Quanh hồ Y- rơ –Pao có những loài chim gì? (Đại bàng, Thiên Nga, chim Kơ  púc)
? Tìm những từ ngữ tả hành động, màu sắc, tiếng kêu, hoạt động của chúng? ( Đại bàng : chân vàng, mỏ đỏ, tiếng vi vu, vi vút.)
 (Thiên Nga: Trắng muốt đang bơi lội.)
 ( Chim kơ Púc: Mình đỏ chót và nhỏ như quả ớt.)
Cho học sinh đọc đoạn 2 và trả lời câu hỏi :
? Với đủ các loài chim hồ Y- rơ -  Pao vui nhộn như thế nào? ( Tiếng hót ríu rít, rộn vang cả mặt nước )
? Con  thích nhất cảnh đẹp nào ở hồ Y – rơ – Pao?  ( HS trả lời theo suy nghĩ cá nhân)
Cho một em đọc to cả bài văn
? Bài văn tả về nội dung gì ?
(giáo viên chốt như yêu cầu )
Cho học sinh đọc nội dung bài ( Giáo viên treo nội dung lên bảng )
4/ Luyện đọc lại :
Giáo viên đọc bài văn lần 2
Gọi học sinh đọc cá nhân ( Đánh giá cho điểm )
( có thể cho học sinh  đọc 1 hoặc 2 câu, đoạn, bài tùy theo năng lực của các em.)          Trong quá trình theo dõi học sinh đọc giáo viên cần chú ý nghe chính xác các phụ âm khi mà học sinh hay đọc sai để sửa cho các em ngay khi đọc sai.
Cho học sinh đọc theo nhóm và thi giữa các nhóm .( Giáo viên cho học sinh nhận xét phần thi đọc giữa các nhóm giáo viên nhạn xét đánh giá tuyên dương cho điểm giữa các nhóm )
Cho 2 em học sinh đọc cả bài .
? Con có nhận xét gì về chim rừng Tây Nguyên?
5/ Củng cố dặn dũ .
Về nhà luyện đọc nhiều lần bài văn và chuẩn bị bài : Hội vật để giờ sau chúng ta học.
Nhận xét 2 tiết học
ưu điểm : Học sinh đã đọc được bài tập đọc một cách trôi chảy, phát âm chuẩn hơn, đã biết nhấn giọng ở những từ ngữ gợi tả, từ chìa khóa , đã thể hiện giọng đọc của mình, tự tin khi đọc bài và trả lời bài lưu loát,  một số em đó đọc diễn cảm rất tốt, thể hiện được tình cảm của mình qua giọng đọc cuốn hút được người nghe. Đặc biệt là lớp 2A đọc tốt hơn lớp 2B.
Tồn tại : Một số ít các em học sinh vẫn còn thể hiện giọng đọc đều đều chưa biết nhấn giọng ở những từ ngữ gợi tả, ngắt nghỉ chưa đúng chỗ.học sinh lớp 2B còn một số em phát âm còn sai, ngọng các phụ âm n/l,ch/ tr, x/s.
II.3:  CHƯƠNG 3
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
II.3.1 Phương pháp nghiên cứu:
Thực hiện nghiên cứu đề tài này tôi tiến hành nghiên cứu các phương pháp sau.
II.3.1.1 Phương pháp điều tra.
Thông qua việc trao đổi bàn bạc giáo viên với học sinh, phụ huynh nhằm mục đích nắm bắt thu thập những tài liệu, thông tin và tình hình thực tế có liên quan đến nội dung đề tài cần nghiên cứu.
Trao đổi với giáo viên sau một giờ tập đọc phải đạt được những yêu cầu gỡ ? Trao đổi với phụ huynh về vấn đề học ở nhà của các em học sinh những tồn tại của con em họ, ý kiến  của phụ huynh về môn học này.
II.3.1.2. Phương pháp quan sát
   Thông qua các tiết dự giờ, các giờ giảng trên lớp của giáo viên mà tôi quan sát được, kháo sát thí điểm một số lớp trong tiết học, biết được khả năng tiếp thu bài của các em học sinh, biết được cách đọc của các em, bên cạch đó tiếp thu học hỏi được kinh nghiệm hay của giáo viên, và phát hiện ra những hạn chế trong quá trình giảng dạy của giáo viên .
II.3.2.2 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết .
Đọc sách nghiên cứu tài liệu tìm ra những kiến thức có liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu, từ đó giúp cho kết quả của đề tài được năng cao, được mở rộng và có tính  khả thi trong các năn học tiếp theo.
II.3.2.3 Phương pháp thực nghiệm khoa học .
Thông qua các tiết dạy thể nghiệm để chứng minh cho các biện pháp đề xuất là đúng đắn và các biện phát đó có tính giáo dục cao khi áp dụng chất lượng được nâng lên rõ rệt.
II.3.2.4 Kết quả nghiên cứu:
Đánh giá nhận xét quá trình nghiên cứu áp dụng vào các giờ dạy thử nghiệm kết quả đó làm, các em học sinh đó tiến bộ rõ rệt thông qua khảo sát ở lớp 2A,2B
Tổng số học sinh : 25em
 
TSHS
Đọc ngọng
Đọc P/âm sai
Đọc sai dấu
đọc đúng
Đọc diễn cảm
 
TS
%
TS
%
TS
%
TS
%
TS
%
2A
25 HS
 
 
1
4%
1
4%
8
32%
15
60%
2B
25 HS
2
8%
2
8%
1
4%
10
40%
10
40%
   
 
 
 
III. KẾT LUẬN CHUNG
 
Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp đặc biệt, trong đó ngôn ngữ được thể hiện ở dạng nói và viết. Để mỗi tiết học mang lại hiệu quả cao người giáo viên phải đầu tư thời gian một cách hợp lý nhằm lựa chọn các nội dung và phương pháp dạy  học cho phù hợp, đồng thời người giáo viên phải thực sự năng động, sáng tạo, luôn trăn trở tìm tòi suy nghĩ, hình thức tổ chức dạy học sao cho mọi học sinh đều có niềm say mê hứng thú trong học tập. trong quá trình dạy học phải nắm vững tâm lý học sinh, học sinh khối 2 các em thích được động viên, khuyến khích, khen, để thực hiện mỗi tiết dạy giáo viên cần hiểu thật rừ, nắm vững nội dung, yêu cầu cuả từng tiết (toàn bài phải đọc giọng như thế nào? tốc độ cường độ, chỗ nào phải nhấn giọng, hạ giọng, …..) Nắm chắc đặc trưng của phân môn tập đọc khối 2 trong giờ học tôi phân bố thời gian theo trình tự giáo án chú trọng các yểu tố, đọc mẫu của giáo viên, nếu giáo viên đọc mẫu tốt cũng là dạy cho học sinh được rất nhiều, đọc câu, đoạn nhằm minh họa, hướng dẫn gợi ý giỳp học sinh tự tìm cách đọc. Trong chương trình tiếng việt phân môn tập đọc có nhiệm vụ rõ ràng đó là rèn cho học sinh kỹ năng đọc,  nghe, nói, viết. Đọc là quá trình tiếp nhận thụng tin do đó các kỹ năng đọc, nghe,  nói, viết có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, sự tạo thành các kỹ năng này giúp học sinh đạt kết quả cao trong giao tiếp. qua quá trình tìm hiểu công việc tập đọc của học sinh và công tác giảng dạy của giáo viên đối với phân môn tập đọc trong trường tiểu học đồng thời thông qua chất lượng kiểm tra cuối năm ,tôi thấy lớp 2A, 2B có nhiều tiến bộ song kết quả chưa hẳn là cao.Với sự tìm tòi sáng tạo trong chuyên môn, tôi cảm thấy thầy và trò còn phải cố gắng nhiều .                                                                                     
Trên đây là một số kinh nghiệm về phương pháp dạy Tập đọc cho học sinh lớp 2 nhằm nâng cao chất lượng giờ dạy môn Tập đọc của tôi đó được đúc rút qua nghiên cứu và thực tế giảng dạy. Trong quá trình viết chuyên đề này hẳn không tránh khỏi những sai sót. Tôi rất mong được sự góp ý của Hội đồng khoa học các cấp và các đồng nghiệp để ý kiến tôi đưa ra được hoàn thiện hơn nữa.
                                                                
                 Tôi xin chân thành cảm ơn!
An Sinh, ngày 15 tháng 5 năm 2010
                                                                             Người viết
 
 
 
                                                                                 Phạm Thị Thạo
 
MỤC LỤC
 
PHẦN MỞ ĐẦU
I.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
 
I.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
 
I.3 THỜI GIAN ĐỊA ĐIỂM
 
I.4 ĐÓNG GÓP MỚI VỀ MẶT LÝ LUẬN VỀ MẶT THỰC TIỄN.
 
I.4.1 NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN:
 
I.4.2 NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN:
    
                                               
 
II. NỘI DUNG
 
II.1 Chương 1: TỔNG QUAN
II.1.1 Cơ sở lý luận.
 
II.1.2 Cơ sở thực tiễn.
 
II.2 CHƯƠNG II
NỘI DUNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
 
II.2.1 MỘT SỐ KINH NGHIỆM
 
II.2.2 NGHIÊN CỨU CHƯƠNG TRÌNH SÁCH GIÁO KHOA
 
II.2.2.1 NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH
 
II.2.2.2 NGHIÊN CỨU SÁCH GIÁO KHOA.
 
II.2.2.3 NGHIÊN CỨU TÌNH TRẠNG HỌC SINH :
 
II.2.2.4:  DỰ GIỜ ĐỒNG NGHIỆP.
 
II.2.2.5:  ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
 
 
 
II.3:  CHƯƠNG 3
 
                   PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU – KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
 
II.3.1 Phương pháp nghiên cứu :
 
II.3.1.1 Phương pháp điều tra.
 
II.3.1.2. Phương pháp quan sát.
 
II.3.2.2 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết.
 
II.3.2.3 Phương pháp thực nghiệm khoa học.
 
II.3.2 Kết quả nghiên cứu:
 
                                  III. KẾT LUẬN CHUNG
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG CẤP TRƯỜNG
....................................................................................................................
....................................................................................................................
....................................................................................................................
....................................................................................................................
....................................................................................................................
....................................................................................................................
....................................................................................................................
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHÒNG GD&ĐT
....................................................................................................................
....................................................................................................................
....................................................................................................................
....................................................................................................................
....................................................................................................................

         

 
Sáng kiến kinh nghiệm

Một số biện pháp xây dựng phong trào "Giữ vở sạch, viết chữ đẹp" ở trường Tiểu học

Một số biện pháp xây dựng phong trào "Giữ vở sạch, viết chữ đẹp" ở trường Tiểu học
Chữ viết có tầm quan trọng đặc biệt ở bậc tiểu học, học sinh phải dùng chữ viết để học tập và giao tiếp.
Chúng ta biết rằng chữ viết có tầm quan trọng đặc biệt ở bậc tiểu học, học sinh phải dùng chữ viết để học tập và giao tiếp. Vì vậy, chữ viết không những có quan hệ mật thiết tới chất lượng học tập ở các môn học khác mà còn góp phần rèn luyện một trong những kĩ năng hàng đầu của việc học môn Tiếng Việt trong trường tiểu học - đó là kỹ năng viết chữ. Nếu học sinh viết đúng, đẹp, rõ ràng, đảm bảo tốc độ quy định thì học sinh có điều kiện để ghi chép bài học tốt, nhờ vậy mà kết quả học tập tốt hơn, ngược lại viết xấu sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng học tập của các em.

 
    Để học sinh viết đẹp thì trước hết phải viết đúng qua các tiết tập viết ở lớp. Bởi vì, qua đó học sinh nắm được các khái niệm về đường kẻ, dòng kẻ, toạ độ, tốc độ, tên gọi các nét, cấu tạo chữ cái, vị trí dấu thanh, và liên kết các chữ cái khi viết .Từ đó, mới hình thành ở các em những biểu tượng về hình dáng độ cao và sự cân đối, tính thẩm mĩ của chữ viết. Ngoài ra, học sinh còn rèn thao tác viết chữ từ đơn giản đến phức tạp, xác định được khoảng cách để hình thành kĩ năng viết đúng mẫu, rõ ràng và cao hơn là viết nhanh và viết đẹp .
     Chữ viết mang tính thực hành cao, ngoài việc học sinh nắm được các kiến thức cơ bản của việc viết chữ và kỹ thuật viết thì rèn viết chữ đẹp là một yêu cầu cũng hết sức quan trọng và cần thiết, vì vậy chúng ta cần chú ý rèn cho học sinh tính cẩn thận, sự sáng tạo khi viết.
    Tuy nhiên, qua nhiều năm dạy học cũng như làm công tác quản lí, tôi thấy một số hạn chế về phong trào này như sau:
        Về phía học sinh:
          - Các em không được rèn luyện nhiều về cách trình bày vì nhiều môn học đã có Vở bài tập in sẵn các bài tập. Học sinh ngại viết, không có hứng thú và lòng say mê khi viết chữ mà chủ yếu là chỉ dừng lại ở mức độ viết đúng.
          ở cấp tiểu học, ngay từ những lớp đầu cấp như lớp 1 thì kỹ năng viết chữ đúng mẫu là rất quan trọng nhưng học sinh lại  không nắm được cấu tạo các con chữ và kỹ năng viết  đúng dẫn đến sai ngay từ những giờ tập viết đầu tiên của cấp học.
    Bên cạnh đó, phụ huynh không quan tâm đến sách vở cũng như các loại bút viết đúng tiêu chuẩn cho học sinh, nhiều em  không đủ vở để viết.
          Về phía giáo viên:
    Chữ viết của một số giáo viên còn quá xấu nhưng không có ý thức rèn luyện viết chữ dẫn đến không có sự mẫu mực trong chữ viết ở bảng lớp cũng như khi chấm bài cho học sinh.Thậm chí có giáo viên viết ở bảng lớp vẫn còn cẩu thả không đúng mẫu, sai chính tả, tuỳ tiện trong cách trình bày. Nhất là trong thời điểm mà toàn ngành đang vận động soạn bài trên máy vi tính thì ý thức của giáo viên về phong trào rèn chữ đẹp bị hạn chế rất nhiều.
     Chưa có mô hình, điển hình về rèn chữ viết của giáo viên trong các nhà trường để cùng nhân rộng học tập.
           Về phía nhà trường:
          - Nhà trường chỉ mới quan tâm chăm lo chỉ đạo các hoạt động về chuyên môn như học sinh giỏi các môn văn hoá mà chưa coi trọng và tạo được sự chuyển biến về phong trào thi đua “Giữ vở sạch-Viết chữ đẹp”.
          - Một số  phụ huynh còn chưa nhận thức hết tầm quan trọng của phong trào này, chỉ bắt ép học sinh học Tiếng việt, Toán mà quên rằng chữ viết của các em sẽ làm cho tâm hồn các em thêm phong phú, chữ viết xấu sẽ làm giảm đi phần điểm trình bày về chữ viết trong bài làm của các em mà bất cứ bài thi nào cũng có.
           - Chưa có hình thức tuyên dương khen ngợi những học sinh có ý thức trong phong trào “Giữ vở sạch-Viết chữ đẹp”.
           - Cơ sở vật chất nhà trường chưa đáp ứng đầy đủ cho phong trào này như bàn ghế đúng chuẩn, bảng kẻ, ánh sáng…
           - Qua thực tế thấy rằng chất lượng Vở sạch chữ đẹp chưa cao, phong trào chưa mạnh, chưa thu hút được giáo viên và học sinh say mê trong luyện chữ đẹp.
    Từ những nhận thức trên và qua những gì đã chỉ đạo ở trường trong những năm qua, bản thân tôi đã rút ra được một số kinh nghiệm nhằm chỉ đạo thực hiện tốt phong trào “ Giữ vở sạch-Viết chữ đẹp” ở trường tiểu học  như sau:
          - Cần làm tốt công tác tuyên truyền, phối hợp với phụ huynh để xây dựng phong trào “ Giữ vở sạch - Viết chữ đẹp”
    Trong cuộc họp phụ huynh đầu năm, giáo viên chủ nhiệm phải tuyên truyền cho phụ huynh biết về vai trò quan trọng của Giữ vở sạch - Viết chữ đẹp; hướng dẫn phụ huynh trong việc mua sắm đồ dùng sách vở, bút viết cũng như cách bọc sách vở cho các em...và phổ biến cho phụ huynh biết các tiêu chuẩn cụ thể khi xếp loại vở sạch chữ đẹp hàng tháng.
           - Hàng tháng, hàng kì nhà trường sẽ thông báo tình hình học tập và rèn luyện chữ viết của học sinh qua sổ liên lạc gia đình để phụ huynh có kế hoạch kèm cặp thêm ở nhà .
           - Xây dựng nề nếp phong trào ngay từ ở các lớp:
    Vào đầu năm học mới giáo viên chủ nhiệm lớp phải tiến hành kiểm tra sách vở, đồ dùng học tập của học sinh, hướng dẫn học sinh nên dùng loại vở nào, dùng loại bút nào để luyện viết, hướng dẫn học sinh cách bọc vở và bảo quản, giữ gìn sách vở như thế nào trong năm học. Hướng dẫn cho học sinh các tiêu chuẩn cần phấn đấu để đạt danh hiệu “ Vở sạch - Chữ đẹp”. Đồng thời cùng học sinh ra quyết tâm thực hiện các chỉ tiêu về phong trào rèn chữ viết và giữ gìn sách vở.
             - Có thể lấy một số bài viết của các anh chị lớp trên hoặc những học sinh đã đạt giải thi viết chữ đẹp cấp huyện, cấp tỉnh như em Trần Thị Tuyết Tình 5C, em Trần Hoàng Anh 4A, Trần Thị Phượng 3C… để cho các em xem và học tập tấm gương của các anh chị.
             - Ngoài yêu cầu viết đúng, đẹp cần hướng dẫn cách trình bày ở vở của học sinh trong từng thể loại bài, cách kẻ vở khi hết bài, hết môn, hết ngày và hết tuần như thế nào để thống nhất trong cả lớp;
             - Đối với những em có năng khiếu và viết chữ khá đẹp, giáo viên phải có định hướng từ đầu là phải luôn chú ý theo dõi, kèm cặp nhắc nhở để học sinh luôn ghi nhớ, cố gắng thường xuyên bởi vì hơn ai hết giáo viên là người trực tiếp dạy dỗ, quan tâm học sinh hàng ngày nên có điều kiện, kiểm tra và có hướng khắc phục uốn nắn kịp thời;
             - Cần khảo sát phân loại học sinh ngay từ đầu năm để có hướng kèm cặp những học sinh còn viết xấu và có kế hoạch bồi dưỡng những học sinh có năng khiếu,viết đẹp;
             - Hàng tuần phải kiểm tra chấm và nhận xét, động viên để học sinh cố gắng hơn ở tuần tiếp theo.
    Hàng tháng, sau khi xếp loại Vở sạch chữ đẹp, giáo viên cần biểu dương và khen ngợi những học sinh có nhiều cố gắng trong phong trào này.
            - Dạy tốt phân môn Tập viết, Chính tả trong chương trình Tiểu học để nâng cao chất lượng chữ viết cho học sinh.
    Chúng ta biết rằng muốn viết đẹp thì trước tiên là phải viết đúng mẫu chữ, kích cỡ, độ cao, tốc độ viết đảm bảo.Vì thế trong các giờ tập viết, chính tả trên lớp, giáo viên cần cung cấp cho học sinh những khái niệm cơ bản về đường kẻ, toạ độ viết chữ, tên gọi các nét chữ, cấu tạo chữ cái, vị trí dấu thanh, dấu phụ, các khái niệm liên kết nét chữ hoặc liên kết chữ cái … Từ đó ,hình thành ở các em những biểu tượng về hình dáng, độ cao, sự cân đối, tính thẩm mĩ của chữ viết. Bên cạnh đó, giáo viên cần dạy học sinh các thao tác viết chữ từ đơn giản đến phức tạp, bao gồm các kỹ năng viết nét, liên kết nét tạo các chữ cái và liên kết chữ cái tạo thành chữ ghi tiếng. Đồng thời giúp các em xác định khoảng cách, vị trí cỡ chữ trên vở kẻ ô li để hình thành kỹ năng viết đúng mẫu, rõ ràng và cao hơn là viết nhanh và đẹp.
    * Ngoài ra khi viết cần thực hiện các nguyên tắc khi ngồi viết, đó là:
           - Trạng thái tinh thần phải phấn chấn, hứng thú, không viết khi mệt mỏi, buồn ngủ, uể oải, phân tán vì chuyện khác, tránh tư tưởng viết qua quýt cho xong để đi chơi.
           - Ánh sáng trong phòng học phải đảm bảo, thuận chiều từ bên trái sang không bị sấp bóng.
           - Tư thế ngồi viết phải thoải mái, không gò bó và tuyệt đối không quỳ, nằm, ngồi viết tuỳ tiện, không để vở quá gần, khoảng cách từ mắt đến vở khoảng 25-30 cm là vừa.
           - Ngồi viết đúng tư thế, không ngồi vặn vẹo lâu thành thói quen, cố tật dẫn đến lệch cột sống .Cần hướng dẫn học sinh cách cầm bút đúng quy định.
    * Trước khi viết nên chuẩn bị tốt cho học sinh:
           - Nếu viết bút chì thì cần được gọt cẩn thận, vừa ( nét chì hơi nhọn), Không để chì nhọn quá làm cho giấy sẽ bị rách hoặc tù quá sẽ làm cho chữ có nét to, chữ xấu.
           - Nếu viết bút mực thì nên chọn bút bi nước vừa dễ viết lại không bị giây mực cả sách vở áo quần mà chữ viết lại đẹp hoặc chọn cho các em loại bút viết được nét thanh nét đậm thì càng tốt.
    * Sau khi viết giáo viên cần:
        - Nhận xét thật tỉ mỉ các nét chữ trong con chữ mà học sinh vừa viết và phân tích rõ nguyên nhân học sinh viết chưa đúng, chưa đẹp để có hướng kèm cặp và hướng dẫn thêm.
        - Đối với những em chưa nắm chắc cấu tạo con chữ hay kỹ thuật viết như: Lia bút, rê bút hay viết liền mạch thì giáo viên phải cung cấp biểu tượng về con chữ đó để học sinh nắm chắc hơn và hướng dẫn thêm về kỹ thuật viết cho các em.
       - Đề cao sự mẫu mực về chữ viết của giáo viên 
    Chúng ta thường nói rằng “ Thầy nào - trò nấy”. Quả thật, chữ viết của giáo viên là vấn đề có tính chất quyết định, bởi vì giáo viên luôn là tấm gương đối với học sinh về tất cả các mặt, nhất là học sinh tiểu học và đặc biệt là các lớp đầu cấp thì thầy cô giáo luôn là một hình ảnh rất tài giỏi, đẹp đẽ và mẫu mực. Khi vào các lớp đầu cấp học sinh bắt đầu cầm bút viết những nét chữ đầu tiên thì chữ viết của giáo viên ở bảng lớp, ở con chữ cô viết mẫu là rất quan trọng. Các em sẽ nhìn, quan sát và bắt chước những nét chữ từ đơn giản đến phức tạp của cô giáo.Thực tế thấy rằng nếu giáo viên viết chữ đẹp và có ý thức rèn chữ viết thì chất lượng chữ viết của lớp đó sẽ cao và qua quan sát ta thấy rằng nét chữ của các lớp khác nhau nhưng trong một lớp thì lại tương đối giống nhau và rất giống chữ của giáo viên.
    Bên cạnh đó, muốn cho học sinh viết đẹp, giữ gìn sách vở sạch sẽ thì giáo viên phải rất công phu rèn luyện theo phương pháp khoa học, lâu dài, kiên trì và chịu khó…
    Vì vậy, chúng tôi đã chỉ đạo toàn trường như sau:
        - Trước hết người giáo viên cần phải coi trọng chữ viết thường ngày của mình trên bảng lớp, đây chính là trang viết mẫu mực đầu tiên của mình cho học sinh thấy. 
        - Giáo viên cần viết đúng chính tả, đúng mẫu, rõ ràng và ngay ngắn, cần phải  quy định cho tất cả giáo viên cách trình bày lề bảng, dòng chữ ghi ngày tháng năm, tên môn, tên bài học cần được viết rất mẫu mực không  qua loa và tuyệt đối là không được sai chính tả. Bên cạnh đó là lời phê, lời nhận xét của giáo viên trong bài làm của học sinh cũng vậy, kể cả khi giáo viên ghi sổ liên lạc.
    Tuy nhiên, viết chữ đẹp cũng cần một chút nhỏ sự tài hoa và không phải ai cũng viết được thật đẹp, cho nên giáo viên là người luôn phải luyện viết thường xuyên. Ngoài bộ hồ sơ giáo viên phải viết hằng ngày thì giáo viên phải có vở luyện viết là vở tập viết để viết đúng mẫu chữ quy định và các bài viết luyện chữ đẹp và sáng tạo.
    - Bồi dưỡng lòng say mê và tinh thần quyết tâm thực hiện phong trào “Giữ vở sạch - Viết chữ đẹp ”
    Tôi nghĩ rằng, để gặt hái được nhiều thành công trong mọi công việc đều phải có lòng say mê và tinh thần quyết tâm thực hiện. Chính vì vậy, ngoài những biện pháp trên thì người giáo viên còn phải khơi dậy ở các em lòng say mê về rèn chữ cho học sinh bằng những mẫu chữ đẹp, trang vở sạch đẹp, bộ hồ sơ mẫu mực. Giáo viên phải thổi vào học sinh luồng sinh khí những ước mơ cao đẹp, kể cho học sinh nghe những mẩu chuyện về tấm gương rèn chữ viết của anh Nguyễn Ngọc Ký, Cao Bá Quát và gần hơn nữa là các bạn học sinh trong lớp, trong trường mình.
    Cho học sinh đọc và xem những bài dự thi về “ Văn hay- chữ tốt” trên báo và tạp chí Thế giới trong ta mà giáo viên sưu tầm được sau đó để lại lớp cho học sinh xem hằng ngày để qua đó gợi lên ở các em lòng say mê, ham thích luyện viết chữ đẹp.
          - Công tác chỉ đạo của nhà trường đối với phong trào  “Giữ vở sạch- Viết chữ đẹp”
    * Về công tác chỉ đạo phong trào:
         - Ngay từ đầu năm học nhà trường cần lập kế hoạch cụ thể và coi đây là một tiêu chí quan trọng trong hoạt động dạy và học của nhà trường đồng thời phải có chỉ tiêu cụ thể để giao cho các tổ chuyên môn, các khối lớp và các giáo viên chủ nhiệm lớp.
         - Hàng tháng tổ chức đánh giá xếp loại vở sạch chữ đẹp của học sinh chính xác, công khai.
        - Tổ chức cho học sinh thi viết chữ đẹp một học kì hai lần, sau mỗi lần như vậy cần động viên khen thưởng để khích lệ phong trào.
        - Sau mỗi học kì nhà trường tổ chức họp phụ huynh học sinh, giáo viên chủ nhiệm sẽ báo cáo tình hình rèn luyện chữ viết của học sinh trong từng tháng, từng kì trong tuần để cho phụ huynh biết .
        - Qua cuộc họp phụ huynh, giáo viên cần đưa ra một số cá nhân học sinh điển hình có ý thức trong việc giữ vở sạch viết chữ đẹp để khen ngợi và khích lệ phong trào.
        - Mỗi năm, nhà trường cần kết hợp các đợt sơ kết cuối kì I, tổng kết năm học  hay các đợt thi đua để tổ chức triển lãm các thành quả mà học sinh đã làm được như các bài thi viết chữ đẹp, các bộ sách vở tiêu biểu  để cho các em, các bậc phụ huynh cùng xem và thấy được những thành quả của con em mình đã ý thức rèn luyện để học sinh và các lớp có sự thi đua học tập lẫn nhau.
        - Cần có sự động viên khen thưởng thích đáng và kịp thời đối với những cá nhân học sinh và các lớp trong phong trào “ Giữ vở sạch - Viết chữ đẹp” sau các đợt thi đua.
        - Tổ chức trưng bày thành quả hàng năm của học sinh và chỉ đạo thực hiện tốt mô hình “ Câu lạc bộ viết chữ đẹp của giáo viên và học sinh“. Từ một cá nhân viết đẹp đạt giải nhất Quốc gia về viết chữ đẹp đứng ra hướng dẫn và duy trì câu lạc bộ hoạt động theo tháng, tuần sẽ thu hút được sự quan tâm của tập thể giáo viên và học sinh.
   * Về cơ sở vật chất:
       - Chúng tôi quan tâm nhiều đến bàn ghế cho học sinh, tham mưu với chính quyền địa phương thay thế dần loại bàn mảng có 4-5 chỗ ngồi, bàn đôi ghế đôi bằng bàn đôi ghế một và vừa tầm với lứa tuổi của từng lớp. Đặc biệt, là cố gắng bố trí phòng học cố định theo lứa tuổi, có thay đổi chứ không phải năm học nào các em cũng được ngồi bàn ghế đó, phòng học đó.
      - Trang bị đủ phòng học có bảng chống loá đạt chất lượng, riêng lớp 1,2 phải có phần kẻ ô li để thuận tiện cho việc dạy tập viết và hướng dẫn học sinh luyện viết.
       - Lắp đầy đủ hệ thống bóng đèn đủ ánh sáng cho học sinh, cửa sổ, cửa chính phải cung cấp đủ ánh sáng cho các em không bị ảnh hưởng đến thị lực.
     Qua thực tế đã chỉ đạo trong nhiều năm qua, tôi đã áp dụng những giải pháp trên trong công tác chỉ đạo phong trào “Vở sạch - Chữ đẹp” và thấy rằng:
       - Chất lượng chữ viết của học sinh nói chung được nâng lên rất nhiều, đa số các em đã có ý thức trong việc luyện chữ ở lớp và ở nhà.
       - Học sinh viết đúng mẫu, viết đảm bảo tốc độ, kỹ thuật viết được các em vận dụng và nhiều em đã có nét chữ đẹp và sáng tạo.
       - Tỉ lệ các bộ vở sạch sẽ, đẹp mắt và chuẩn mực  được chọn để trưng bày ngày càng nhiều hơn, chất lượng tốt hơn.
        - Phụ huynh học sinh ngày càng quan tâm  đến chất lượng chữ viết của học sinh và rất tự hào khi được xem bộ vở sạch chữ đẹp của con em mình được trưng bày
       - Số học sinh đạt giải về phong trào “ Giữ vở sạch- Viết chữ đẹp” qua các năm tăng cả về số lượng và chất lượng.
    Xây dựng thành công phong trào “Giữ vở sạch – Viết chữ đẹp” là một việc làm hết sức cần thiết, quan trọng và không thể thiếu trong việc tổ chức các hoạt động toàn diện trong nhà trường tiểu học. Bởi vì, phong trào “Giữ vở sạch-Viết chữ đẹp” được coi trọng sẽ giúp học sinh biết giữ cẩn thận sách vở của mình, có ý thức luyện viết chữ đẹp làm cho việc học tập nói chung và học môn Tiếng Viết nói riêng của học sinh được dễ dàng hơn, thuận lợi hơn và hiệu quả cao hơn. Bên cạnh đó còn thể hiện  được ý thức của con người trong quá trình học tập hay rèn luyện cho học sinh tính cẩn thận, kiên trì chịu khó. Chính vì vậy các nhà trường cần  phải tổ chức tốt phong trào này một cách thường xuyên nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh.          
 
 
    . Nguyễn Thị Thanh Hải - Hiệu trưởng trường Tiểu học Liên Minh, huyện Đức Thọ
 
Sáng kiến kinh nghiệm

Phát huy tác dụng các phòng chức năng ở trường tiểu học

Phát huy tác dụng các phòng chức năng ở trường tiểu học
Ảnh minh họa: Phòng học nghệ thuật của trường tiểu học Ngội Sao Hà Nội
 
Một trong những lợi thế của trường tiểu học đạt Chuẩn quốc gia là có được hệ thống phòng chức năng để thực hiện việc đổi mới phương pháp và giáo dục toàn diện cho học sinh. Tuy nhiên, để phát huy hoạt động các phòng chức năng một cách thực sự có hiệu quả đang là vấn đề rất được quan tâm nhất là các nhà quản lí cấp  tiểu học. Trong phạm vi bài viết này, tôi xin chia sẻ cách làm của trường Tiểu học Đông Thái, huyện Đức Thọ rất mong được đồng nghiệp trao đổi bổ sung.

 
    1. Sắp xếp, bố trí các phòng chức năng hợp lý
    Việc sắp xếp, bố trí các phòng chức năng sao cho hợp lý, có tác dụng lớn trong việc sử dụng. Bởi, mỗi phòng có một chức năng riêng, yêu cầu riêng, nên phải bố trí ở từng vị trí khác nhau. Phòng Giáo dục nghệ thuật khi sử dụng thì ồn ào, phòng Đọc và Thư viện thì cần nơi yên tĩnh, phòng Thường trực thì cần nơi bao quát được toàn bộ khu vực trường, phòng Truyền thống Đội thì cần vị trí trung tâm, việc làm này quả rất khó khăn bởi hầu hết các trường khi xây dựng  đều không có đủ kinh phí đề làm một lần mà phải xây dựng thành nhiều đợt, mất nhiều năm mới xong. Do vậy, khi xây dựng  đã bỏ quên mất việc bố trí sắp xếp các phòng chức năng sao cho hợp lý. Cũng có những trường do diện tích không đảm bảo để sắp xếp bố trí khoa học. Và không ít trường chỉ xây dựng các phòng này cho đủ theo quy định trường đạt chuẩn quốc gia chứ chưa tính đến việc sử dụng.
    ở trường Tiểu học Đông Thái, huyện Đức Thọ khi thiết kế xây dựng, chúng tôi đã bố trí các dãy nhà theo hình chữ U. Dãy nhà chính giữa được dùng làm các phòng học văn hoá, phòng học Tiếng Anh, Tin học (hai phòng này được bố trí ở tầng trên và về cuối dãy nhà). Chính giữa dãy nhà này có các phòng Y tế học đường, phòng Truyền thống Đội và phòng chờ giáo viên. Một cạnh là dãy nhà có các phòng Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng, phòng Hội đồng, phòng Đọc sách, Thư viện, thiết bị, nhà Truyền thống. Cạnh chữ U còn lại là dãy nhà có phòng Mỹ thuật, phòng Âm nhạc, phòng Thể thao và phòng Thường trực.
    Việc sắp xếp, bố trí các phòng chức năng như trên rất thuận lợi cho việc sử dụng, không gây ảnh hưởng đến việc học tập và các hoạt động khác. Chẳng hạn phòng Đọc sách được bố trí ở cùng dãy nhà với các phòng Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng thì việc đọc sách sẽ được yên tĩnh, nhưng cũng không ảnh hưởng đến các phòng khác. Ngược lại, phòng Âm nhạc được bố trí ở cuối của dãy nhà đối diện thì việc dạy và học tuy ồn ào nhưng cũng không làm ảnh hưởng đến các hoạt động khác vì cạnh đó là phòng Thể thao và Mỹ thuật. Phòng chờ của giáo viên, phòng Y tế học đường được bố trí chính giữa dãy nhà học rất thuận lợi cho việc giáo viên nghỉ ngơi, hay chăm sóc, sơ cứu học sinh bị ốm trước khi chuyến đến cơ sở y tế. Phòng Thường trực được bố trí vào cuối dãy nhà của phòng Âm nhạc tiện cho việc bảo quản tài sản và quản lý việc ra vào của cán bộ, giáo viên, học sinh, phụ huynh .v.v.
    Việc bố trí các phòng chức năng như thế đã giúp cho các hoạt động của nhà trường diễn ra thuận lợi, hoạt động ở phòng này không làm ảnh hưởng đến hoạt động của các phòng khác. Cách bố trí có thể linh hoạt hơn tuỳ vào đặc điểm của từng trường, nhưng dù bố trí theo cách nào thì cũng phải tuân thủ nguyên tắc khi hoạt động không ảnh hưởng đến các hoạt động khác và ngược lại, các hoạt động khác không làm ảnh hưởng đến hoạt động của phòng đó.
     2. Mua sắm đầy đủ và sắp xếp các thiết bị một cách khoa học.
    Trước hết cần tham mưu với chính quyền địa phương và các lực lượng xã hội để có đủ kinh phí mua sắm các trang thiết bị bên trong cho các phòng chức năng. Khi đã có kinh phí thì việc mua sắm các trang thiết bị cho phù hợp, thiết thực với chức năng của từng phòng cần đòi hỏi ý kiến tập thể nhất là ý kiến của đội ngũ giáo viên bộ môn.
    Các phòng Hội đồng, Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng, Thiết bị, thư viện thì việc mua sắm trang thiết bị không mấy khó khăn, nhưng ở một số phòng như Y tế học đường, Âm nhạc, Tin học, Thể thao thì cần mua trang thiết bị gì đang gặp nhiều lúng túng. Để giải quyết vấn đề này, chúng tôi, đã thành lập Ban mua sắm trang thiết bị bên trong cho các phòng chức năng. Ban này ngoài thành phần là Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng, Kế toán, Ban đại diện cha mẹ học sinh thì một thành phần không thể thiếu được là đội ngũ giáo viên dạy tin học, ngoại ngữ,  âm nhạc, mỹ thuật, thể dục, Tổng phụ trách đội, các Tổ trưởng chuyên môn. Bởi, chính các thành phần này hiểu rõ hơn là phải mua những gì, mua như thế nào để sử dụng có hiệu quả. Ban họp và phân chia thành các nhóm phụ trách từng phòng. Các nhóm lên kế hoạch mua sắm để thông qua Ban. Sau khi thống nhất trong Ban, chúng tôi lấy ý kiến tập thể cán bộ giáo viên một cách công khai, dân chủ. Chúng tôi đã mua sắm các thiết bị cho các phòng chức năng theo phương châm thiết thực, chất lượng, tiết kiệm và ưu tiên các thiết bị sử dụng lâu dài, nhiều lần.
    Sau khi đã mua sắm đủ các thiết bị dạy học theo kế hoạch, chúng tôi đưa toàn bộ các thiết bị đó cùng số thiết bị trên cấp theo từng bộ môn sắp xếp ở các phòng chức năng để tiện việc sử dụng dạy học ngay tại phòng. Ngoài ra, chúng tôi, cho sưu tầm một số tranh ảnh phù hợp để trang trí làm cho các phòng  thêm sự hấp dẫn, kích thích sự hứng thú học tập của học sinh. Ví dụ: ở phòng Âm nhạc chúng tôi sưu tầm ảnh các nhạc sĩ có nhiều sáng tác cho Thiếu nhi, các nhạc sĩ lớn của Việt Nam và thế giới. ở phòng Mỹ thuật thì sưu tầm tranh ảnh của các hoạ sĩ nổi tiếng, các bức tranh vẽ của học sinh học qua từng năm học, tất cả đều được bỏ vào khung và treo ở những vị trí thích hợp.v.v.. .
    Việc làm này đã giúp cho giáo viên đặc thù phát huy hết khả năng, trách nhiệm của mình, đồng thời làm nảy sinh trong các em tình yêu nghệ thuật, thẩm mĩ.
    3. Phân công cán bộ, giáo viên phụ trách và khai thác sử dụng
    Hiện nay, hầu hết các trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia đã có đủ giáo viên dạy các môn Âm nhạc, Mỹ thuật, Tổng phụ trách Đội, một số trường đã có giáo viên Thể dục, Tiếng Anh, Tin học nên việc phân công giáo viên phụ trách các phòng chức năng gặp nhiều thuận lợi. Chúng tôi đã phân công giáo viên phụ trách các phòng Âm nhạc, Mỹ thuật, Thể thao, Tin học, Ngoại ngữ cho giáo viên trực tiếp giảng dạy của bộ môn đó. Phòng Truyền thống nhà trường phân công Bí thư Chi đoàn, phòng Truyền thống Đội phân công Tổng phụ trách Đội; Thư viện, phòng đọc phân công cho nhân viên thư viện; phòng Y tế học đường phân công Văn thư, phòng Hội đồng phân công BCH Công đoàn.
    Cán bộ, giáo viên được phân công phụ trách ở phòng nào phải có trách nhiệm bảo quản, sắp xếp các thiết bị dạy học, trang trí phòng đó sao cho khoa học, tiện lợi trong việc sử dụng và đảm bảo tính thẩm mỹ.
    Để phát huy hiệu quả hoạt động của các phòng chức năng, chúng tôi đã làm như sau: Các tiết dạy, học chính khoá hay tăng buổi cũng như bồi dưỡng năng khiếu đều được đưa về phòng chức năng của từng bộ môn. Khi học âm nhạc các em về phòng Âm nhạc, ở đó có đủ các nhạc cụ: đàn, phách, song loan, tăng âm, loa. Phòng có không gian rộng, cách xa các phòng học khác nên các em có thể múa, hát, sử dụng nhạc cụ một cách thoải mái. Tiết Thể dục, nếu trời nắng các em được học ở ngoài sân bãi theo đúng chương trình, nếu trời mưa về học ở phòng thể thao bằng một nội dung phù hợp. Ngoài ra, phòng Thể thao được mở cửa sớm hơn và mở cả ngày để các em có thể tranh thủ thời gian trước và sau buổi học hay trong giờ ra chơi để tập luyện sau khi đã được giáo viên hướng dẫn. Phòng Truyền thống được mở cửa thường xuyên trong những ngày các em có mặt tại trường để các em vào tham quan. Hàng năm, sau khi khai giảng năm học, học sinh lớp Một được ưu tiên tham quan phòng Truyền thống trước. ở đây, các em được Bí thư  Chi đoàn giới thiệu về truyền thống nhà trường, địa phương. Các em sẽ rất tự hào về ngôi trường của mình và nhiều thế hệ anh chị ngay tại quê mình đã thành đạt từ đó mà học tập, noi gương  nổ lực cố gắng, rèn luyện. Động viên, khuyến khích và tạo điều kiện để cuối mỗi khoá học, những học sinh xuất sắc gửi tặng phòng truyền thống những vật kỉ niệm, kỉ vật như giấy khen, bộ hồ sơ đẹp, bài thi xuất sắc. Nhờ cách làm này phòng truyền thống được “làm giàu” thêm nhiều kỉ vật có giá trị nhất là của các thế hệ học sinh trước đây. Chẳng hạn, bác Lê Đức Chỉnh - nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thể dục thể thao đã gửi tặng 2 chiếc cúp bộ môn Bơi mà bác đã đoạt giải, Nhà giáo Ưu tú Bùi Thân đã gửi tặng tập bài viết đã được đăng trên các báo, Nhạc sĩ Phan Quân gửi tặng đĩa nhạc có các bài hát về quê hương, về nhà trường mà nhạc sĩ sáng tác . . Ngoài ra còn rất nhiều kỉ vật, bút tích của các thê hệ học trò Đông Thái nay đã thành đạt như GS- TS Phạm Đức Dương, TS Phan Hữu Nhu, Nhà văn Hoàng Nguyên Cát, Hoàng Ngọc Phách .v.v...
    Đối với Phòng đọc, việc khai thác như thế nào cho có hiệu quả trong khi các trường tiểu học hiện nay hầu hết dạy học 2 buổi/ngày? Thời gian giáo viên và học sinh đọc sách báo như thế nào cho phù hợp? Trả lời câu hỏi này chúng tôi đã khắc phục bằng cách làm sau: quy định cho nhân viên thư viện các buổi sáng đến sớm hơn 30 phút, vào các buổi chiều mùa đông thì đến sớm hơn, còn các mùa khác thì về muộn hơn 30 phút. Tất nhiên phải bảo đảm thời gian làm việc không quá 8 giờ nên nhân viên thư viện có thể về sớm hơn nếu đi sớm và đến muộn hơn nếu phải về muộn. Cán bộ giáo viên và học sinh có thể đọc sách, báo trước hoặc sau buổi học, trong giờ chơi, giờ có tiết của môn đặc thù, cũng có thể mượn sách, báo về nhà đọc. Khi học sinh đọc xong một cuốn sách chúng tôi yêu cầu tóm tắt nội dung cuốn sách đó. Hàng tháng, em nào tóm tắt được nhiều cuốn sách và có nhiều ý hay sẽ được nhà trường tuyên dương dưới cờ và có phần thưởng là một hay hai quyển vở. ở trước phòng đọc, chúng tôi có đặt thêm 2 dãy ghế đá dưới các gốc cây nhằm mở rộng không gian và tăng thêm chỗ ngồi cho độc giả khi cần thiết.
    4. Bố trí  thời khoá biểu và lịch hoạt động các phòng chức năng một cách hợp lý
    Có phòng, có thiết bị, có giáo viên phụ trách mà không biết cách sắp xếp thời gian thì sẽ không mang lại hiệu suất cao. Đây là vấn đề khó đối với những trường có đông giáo viên và học sinh. Do vậy, phải sắp xếp thời khoá biểu thật khoa học, chuyển đổi các môn học đặc thù sao cho các lớp không trùng nhau, có thể chuyển sang buổi 2. Hạn chế sự trùng lặp các môn đặc thù trong một lớp học cùng một buổi. Các buổi học tăng buổi cũng nên bố trí thêm các tiết của các môn Âm nhạc, Mỹ thuật, thể thao. Các môn học Tin học, Ngoại ngữ nên bố trí vào  buổi 2. Có như thế mới tránh được sự nhàm chán trong học tập, các em được học toàn diện hơn, đảm bảo vừa học, vừa thực hành và vui chơi hợp lí. Việc sắp xếp thời khoá biểu hợp lí sẽ góp phần làm giảm được áp lực cả về thời gian lẫn công việc nhiều giáo viên văn hoá. Việc dạy và học sẽ không bị quá tải, tạo nên không khí vui vẻ, thoải mái mà hiệu quả trong dạy học.
    Trường Tiểu học Đông Thái chúng tôi được khẳng định là một ngôi trường có bề dày truyền thống. Chất lượng dạy học ở đây thường xuyên đạt cao. Những năm gần đây, đặc biệt là sau khi trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 2 thì chất lượng giáo dục toàn diện được nâng lên rất rõ. Với 18 cán bộ giáo viên và hơn 211 học sinh mà  có được 5 giáo viên giỏi tỉnh và đội ngũ học sinh giỏi hàng năm xếp nhất nhì toàn huyện là một minh chứng có sức thuyết phục cao, tạo được niềm tin trong phụ huynh  nói riêng và chính quyền địa phương nói chung. Năm qua, trường chúng tôi đã tham gia một số cuộc thi và đều đạt giải cao: 100% học sinh dự thi vở sạch chữ đẹp cấp huyện đều đạt giải, có 12 em dự thi cấp tỉnh trên tổng số 30 em của toàn huyện dự thi đều đạt giải, trong đó có 1 giải Nhì và 6 giải Ba; 1 giáo viên dự thi Viết chữ đẹp đạt giải Ba cấp tỉnh; hồ sơ giáo viên đạt giải Nhất toàn huyện; văn nghệ công đoàn, bóng chuyền nữ đạt giải Nhất, điền kinh học sinh đạt giải Nhất, thể thao học sinh đạt giải Nhì; giải Nhất cuộc thi Giáo viên – Tổng phụ trách giỏi cấp huyện và đạt giải Ba cấp tỉnh.
    Cùng với việc phát huy tác dụng hiệu quả của các phòng chức năng để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, hàng năm, chúng tôi còn tổ chức cho các em nhiều buổi sinh hoạt ngoài trời, sinh hoạt câu lạc bộ, tham quan, ngoại khoá, tổ chức các cuộc thi trong khối, trong trường. Nhiều buổi sinh hoạt đã được truyền hình huyện và tỉnh ghi hình và phát sóng, nhận được sự đồng tình và ủng hộ của phụ huynh và mọi lực lượng xã hội.
    Tóm lại, việc xây dựng  đủ các phòng chức năng theo quy đinh chuẩn quốc gia đã khó, nhưng làm sao để phát huy tác dụng của các phòng này một cách hiệu quả lại càng khó hơn. Với tư cách là một cán bộ quản lí nhiều năm tại trường Tiểu học đạt Chuẩn quốc gia mức 2, tôi mạnh dạn chia sẻ một số giải pháp đã từng áp dụng có hiệu quả, rất mong được các đồng nghiệp và những ai quan tâm trao đổi, góp ý. 
 

   . Phùng Thanh Bình - Hiệu trưởng trường Tiểu học Đông Thái - Đức Thọ

 
Sáng kiến kinh nghiệm